PHÒNG KTTH

PHÒNG KTTH

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Kinh tế tổng hợp (Email: info@mascopex.com)

Thị trường nông sản tuần qua

Monday, 28 December 2020 13:11

Tuần qua (ngày 21 - 26/12), giá lúa gạo ở một số địa phương Đồng bằng sông Cửu Long, mặt hàng cà phê ở khu vực Tây Nguyên nhìn chung duy trì ổn định so với tuần trước. Trái lại, giá tiêu vẫn tiếp chu kỳ giảm mạnh.

Thị trường trong nước

Tại các tỉnh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, tuần qua nhìn chung, giá lúa gạo ổn định, duy trì ổn định ở mức cao. Giá gạo nguyên liệu IR504 ổn định ở 9.600 đồng/kg; giá gạo thành phẩm IR 504 giữ vững ở 10.900 đồng/kg; giá tấm 1 IR 504 ổn định ở 10.000 đồng/kg; giá cám vàng ổn định 6.800 đồng/kg.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, giá lúa tươi thường tại tỉnh dao động từ 6.700 - 6.900 đồng/kg; một số loại lúa chất lượng cao như OM từ 6.800 - 7.000 đồng/kg.

Giá các mặt hàng gạo tại An Giang cũng duy trì ổn định. Giá gạo thường giao động ở mức 10.500 - 11.000 đồng/kg, gạo Jasmine từ 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo Nhật 23.000 đồng/kg, tấm thường 12.500 đồng/kg, nếp từ 13.000 - 14.000 đồng/kg, gạo Hương lài 19.500 đồng/kg…

Theo các chuyên gia, thời gian qua, giá lúa gạo liên tục giữ ở mức cao, không riêng gạo 5% tấm mà nhiều loại gạo xuất khẩu khác của Việt Nam như gạo DT8, gạo 5451… dù có sự biến động theo thị trường nhưng nhiều thời điểm đã có giá tốt, góp phần nâng cao trị giá xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian qua.

Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đã triển khai được 4 năm và đã tạo được những chuyển biến tích cực trong tổ chức sản xuất - tiêu thụ, từng bước nâng cao giá trị cho gạo Việt Nam.

Trong khi một số chỉ tiêu như đảm bảo an ninh lương thực, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu có thể đạt được khá dễ dàng thì một số chỉ tiêu như nâng cao thu nhập cho người trồng lúa và xây dựng thương hiệu cho gạo Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn.

Tiếp tục thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo đến năm 2025, tầm nhìn 2030, theo các chuyên gia, thời gian tới là nâng cao giá trị xuất khẩu bằng chất lượng và thương hiệu chứ không phải về sản lượng. Muốn tái cơ cấu ngành lúa gạo hiệu quả cần thực hiện đồng bộ 3 nhóm giải pháp: hể chế và chính sách; phát triển khoa học và công nghệ; đầu tư cơ sở hạ tầng.

Theo Diễn đàn của người làm cà phê, tuần qua giá cà phê ở khu vực Tây Nguyên nhìn chung ổn định. Điển hình ngày 26/12, giá cà phê dao động ở mức 32.500 - 32.900 đồng/kg.

Giá cà phê thấp nhất tại Lâm Đồng là 32.500 đồng. Còn các các địa phương khác như: Gia Lai, Đắk Nông có giá là 32.800 đồng/kg; tại Đắk Lắk có giá cao nhất là 32.900 đồng/kg.

Tại cảng Tp. Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2, 5% đen vỡ, đứng ở 1.438 USD/tấn, với mức chênh lệch +55 USD/tấn.

Hiện nông dân đã thu hoạch được khoảng 60 - 70% vụ mùa nhưng có vẻ nông dân không vội bán hàng ra vì giá cà phê thế giới đang dao động ở mức quá thấp, người trồng cà phê không có lợi nhuận. Trong khi đó, chất lượng hạt cà phê vụ mới được đánh giá khá cao khi diện tích vùng cà phê đặc sản ngày càng mở rộng và công nghệ sau thu hoạch được chú trọng nhiều hơn.

Theo Tintaynguyen, giá tiêu ngày 26/12 trong khoảng 52.000 - 54.000 đồng/kg, giảm 1.000 - 1.500 đồng/kg so với cuối tuần trước. Giá tiêu cao nhất vẫn ở Bà Rịa - Vũng Tàu là 54.000 đồng/kg. Tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông giá tiêu được thu mua với mức 53.000 đồng/kg. Tại tỉnh Đồng Nai, giá tiêu ở mức thấp nhất là 52.000 đồng/kg.

Giá tiêu đang ở trong đợt suy giảm mạnh. Người nông dân bước vào vụ thu hoạch với tâm lý lo lắng, không biết đợt suy giảm này đã kết thúc chưa. Bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với diện tích suy giảm, dịch bệnh và năng suất tiêu vụ tới.

Thị trường thế giới

Về thị trường nông sản kỳ hạn Mỹ, kết thúc phiên giao dịch ngày 24/12 tại Sàn giao dịch nông sản Chicago (CBOT) của Mỹ, giá các loại nông sản giao kỳ hạn diễn biến trái chiều, với giá ngô và đậu tương tăng, trong khi giá lúa mỳ giảm.  

Hợp đồng ngô giao tháng 3/2021 được giao dịch nhiều nhất tăng 3,75 xu, hay 0,84%, lên 4,51 USD/bushel. Giá lúa mỳ giao cùng kỳ giảm 2,75 xu, hay 0,44%, xuống 6,27 USD/bushel. Giá đậu tương giao tháng Ba tăng 4,5 xu, hay 0,36%, lên 12,645 USD/bushel. (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

Công ty nghiên cứu AgResource nhận định giá đậu tương tăng trước yêu cầu phải hạn chế nhu cầu với đậu tương của Mỹ khi nhu cầu cao còn nguồn cung hạn chế, trong khi giá lúa mỳ giảm trong phiên giao dịch trước Giáng Sinh.

Khối lượng giao dịch giảm trước ngày nghỉ lễ và trong thời điểm sắp hết năm. Chỉ còn bốn phiên giao dịch trước khi khép lại năm 2020 và các nhà quản lý quỹ không sẵn sàng mạo hiểm và cũng không có lý do để bán ra.

Nhu cầu ngô của Mỹ có thể sẽ tăng mạnh vào tháng 1/2021, nhờ nhu cầu của Trung Quốc. AgResource cho rằng nhu cầu mạnh lên sẽ đẩy giá ngô và đậu tương kỳ hạn tại CBOT tăng. AgResource dự báo xu hướng giá cả tại CBOT sẽ tiếp tục đi lên.

Thị trường gạo châu Á cho thấy, giá gạo Thái Lan tuần qua chạm mức cao nhất trong hơn sáu tháng và giá gạo Việt Nam vẫn ở mức cao chín năm, mặc dù các nhà giao dịch tại Hà Nội nhận định việc nhập gạo từ Campuchia sẽ làm giảm bớt tình trạng thiếu hụt.

Giá gạo 5% tấm của Thái Lan tăng lên 516 - 520 USD/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 11/6, so với 500 - 519 USD/tấn trong tuần trước.

Các nhà giao dịch cho rằng nguồn cung giảm đã hỗ trợ giá gạo. Nhu cầu vẫn thấp, song thị trường nhận định nhu cầu mua sẽ đến từ Nhật Bản trong những tuần tới.

Giá gạo 5% tấm của Việt Nam không thay đổi so với tuần trước đó, ở mức 500 USD/tấn, cao nhất từ tháng 12/2011. Các nhà giao dịch cho rằng tổng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm nay sẽ đạt 6 - 6,2 triệu tấn, thấp hơn mục tiêu 6,5 triệu tấn được đề ra trước đó.

Một nhà giao dịch tại thành phố Hồ Chí Minh cho rằng hoạt động giao dịch vẫn chậm khi nguồn cung trong nước thấp, nhưng việc nhập gạo từ Campuchia có thể làm dịu bớt tình trạng thiếu hụt. Nhu cầu được cho là sẽ tăng trong những ngày tới và tình hình xuất khẩu của Việt Nam được dự báo sẽ khả quan trong năm 2021, với nhu cầu khá cao từ Philippines.

Bích Hồng - Lê Minh (TTXVN)

Nâng tầm cà phê Việt

Monday, 28 December 2020 13:04

Nhiều doanh nghiệp đang đầu tư mạnh để nâng chất lượng cà phê Robusta Việt Nam, xứng tầm là quốc gia xuất khẩu Robusta số 1 của thế giới

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT), từ nhiều năm nay, Việt Nam luôn là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới và đứng số 1 thế giới về xuất khẩu cà phê Robusta, đạt kim ngạch xuất khẩu thường xuyên hơn 3 tỉ USD/năm (chiếm 17,4% về lượng và 9,5% về giá trị xuất khẩu cà phê toàn cầu). Cà phê Việt Nam đã có mặt ở hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, thị trường chính là châu Âu (EU), Mỹ, Nhật..., chứng tỏ cà phê Việt Nam có chất lượng, đạt yêu cầu khắt khe của nhiều thị trường.

Thay thế Arabica

Theo Tổng cục Hải quan, tính đến 10 tháng đầu năm 2020, Việt Nam đã xuất khẩu được hơn 1,205 triệu tấn cà phê, trong đó, cà phê Robusta chiếm đến 95% (còn lại là cà phê Arabica và Excelsa).

Cà phê Robusta là lợi thế của Việt Nam do phù hợp điều kiện tự nhiên, đem lại hiệu quả kinh tế cho nông dân nhưng trước giờ trên thị trường vẫn bị đánh giá thấp hơn Arabica, với giá giao dịch tại các sàn quốc tế chỉ bằng một nửa. Ưu điểm nổi bật của cà phê Arabica là hương thơm đặc trưng của trái cây, hoa cỏ với hàm lượng cafein thấp (1%-2%), còn đặc trưng nổi bật của cà phê Robusta là cafein chiếm đến 3%-4%. Do đó, khi chế biến, các nhà rang xay thường phối trộn các loại cà phê với nhau để có ly cà phê thơm ngon, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Chính vì vậy, dù là cường quốc xuất khẩu cà phê nhưng Việt Nam vẫn phải nhập khẩu cà phê do một số loại trong nước không có.

Theo ông Thái Như Hiệp - Chủ tịch HĐTV, Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp (thương hiệu L’amant Café, nhà xuất khẩu cà phê tốp 10 Việt Nam) - để có ly cà phê ngon, từ khâu chọn giống, quá trình canh tác, thu hoạch, chế biến cần phải đạt chuẩn nhưng khâu quyết định cuối cùng là thiết bị pha chế và người pha chế. "Trước đây, với những dòng máy cấp thấp, chúng ta chưa thể khám phá hết được cà phê Robusta ngon ra sao, hương vị thế nào nhưng nay, những doanh nghiệp tâm huyết với cà phê Việt Nam như L’amant đã mạnh dạn đầu tư thử nghiệm để nâng chất lượng cà phê Robusta. Với những công nghệ tân tiến, chúng ta có thể chế biến các sản phẩm từ cà phê Robusta với chất lượng tương đồng như khi sử dụng nguyên liệu cà phê Arabica" - ông Thái Như Hiệp khẳng định.

Ông chủ thương hiệu L’amant Café cho biết thêm ngày nay các nhà khoa học đã tìm ra những giống cà phê Robusta có hương thơm tự nhiên mùi sô-cô-la hay cherry tương tự cà phê Arabica. "Ở mỗi nông trại cà phê, người dân cần trồng nhiều giống cà phê Robusta khác nhau để đến mùa cây ra hoa, đàn ong có thể thụ phấn khắp vườn, tạo nên hương vị đa dạng cho cà phê. Nhưng nếu chúng ta sử dụng hóa học, những con ong sẽ không đến vườn, sẽ không có những hạt cà phê chất lượng cao. Đó là lý do vì sao Công ty TNHH Vĩnh Hiệp canh tác cà phê hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế" - ông Thái Như Hiệp nói.

Sau khi đầu tư vào Nông trường Cada (Đắk Lắk), nơi được người Pháp chọn để trồng những cây cà phê Robusta đầu tiên tại Việt Nam, ông Trần Thanh Hải, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm dinh dưỡng NutiFood, cũng có mong muốn tương tự cho hạt cà phê Robusta Việt Nam.

Với sự đầu tư bài bản vào khâu trồng trọt, thu hoạch và chiết xuất (pha chế), mẫu cà phê Robusta của Nông trường Cada đã đạt giải nhất cuộc thi Cà phê đặc sản Việt Nam năm 2019 với số điểm 84,67/100 từ các chuyên gia nếm thử cà phê. Từ lô nguyên liệu này, NutiFood đã sản xuất ra dòng Cada Specialty Coffee phiên bản vị đắng nhẹ, chua thanh và hậu vị ngọt dù không hề cho thêm đường hay sữa và đặc biệt nhất là mùi của nhiều loại trái cây tự nhiên. Điều mà trước giờ người tiêu dùng chỉ có thể thưởng thức từ cà phê Arabica đặc sản.

"Đây là Rolls-Royce của Ông Bầu, nếu xem các dòng cà phê từ Cada như các dòng xe" - ông Trần Thanh Hải ví von (từ đồn điền Cada, nguyên liệu được chế biến mang các thương hiệu Ông Bầu, NutiCafé - PV).

Bắt đầu từ chất lượng

Là nhà thu mua cà phê lớn nhất Việt Nam, chiếm từ 20%-25% sản lượng, trị giá trung bình 600-700 triệu USD mỗi năm, Công ty Nestlé Việt Nam (Tập đoàn Nestlé - Thụy Sĩ) cũng đang có nhiều hoạt động để quảng bá thương hiệu cà phê Việt Nam. Trong đó, có dự án Nescafé Plan được triển khai từ năm 2011, với mục tiêu phát triển bền vững ngành cà phê Việt Nam, nâng cao chất lượng và giá trị hạt cà phê Việt và hướng đến việc đưa Việt Nam trở thành tham chiếu cho cà phê Robusta thế giới.

Theo ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Công ty Nestlé Việt Nam, Nestlé có rất nhiều dòng sản phẩm sử dụng cà phê Việt Nam và có những dòng có tính chất giới thiệu cà phê Việt Nam ra quốc tế.

"Tôi xin nhấn mạnh vấn đề không phải là số lượng mà chính là chất lượng sẽ làm nên thương hiệu cà phê. Dự án Nescafé Plan đã góp phần nâng cao chất lượng và sản lượng cà phê Việt Nam bằng việc đưa vào các giống mới chất lượng cao thay thế cho cà phê già cỗi; giúp bà con canh tác bền vững, tăng thu nhập. Từ nền tảng này, Nestlé đã và đang kể câu chuyện cà phê Việt Nam ra thế giới. Hiện Nestlé có nhiều sản phẩm sử dụng nguồn nguyên liệu này để xuất khẩu, trong đó, tiêu biểu có sản phẩm Nestlé Việt xuất khẩu sang Nhật, Hàn Quốc - là những thị trường rất khắt khe về chất lượng" - ông Binu Jacob thông tin.

Theo quan sát của phóng viên, trên bao bì sản phẩm Nestlé xuất khẩu, không chỉ thể hiện xuất xứ Việt Nam mà còn có chữ tiếng Việt bên cạnh tiếng Anh, tiếng bản xứ về thông tin sản phẩm cũng như hình ảnh người nông dân Việt Nam đang thu hái cà phê.

Đại diện Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vicofa) đánh giá những năm qua, ngành cà phê Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Ngoài xuất khẩu cà phê nhân, Việt Nam cũng đẩy mạnh chế biến và xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan (chiếm khoảng 12%). Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư vào chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, tạo uy tín và sự tin tưởng cho người tiêu dùng trong và ngoài nước như: Phúc Sinh, Intimex, Tín Nghĩa, Vĩnh Hiệp... Vicofa cũng đang đẩy mạnh việc xúc tiến tiêu thụ cà phê trong nước, đẩy mạnh tiêu thụ cà phê rang xay, chế biến cũng như quảng bá văn hóa thưởng thức cà phê cao cấp.

 

Không dễ để xây dựng thương hiệu

Dưới góc nhìn của một chuyên gia về thương hiệu, ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc điều hành Công ty The Pathfinder, cho rằng rất khó tìm thấy cà phê thương hiệu Việt Nam ở các siêu thị Mỹ. "Các thương hiệu cà phê Việt Nam chỉ loanh quanh ở các siêu thị dành cho người châu Á, phục vụ người Việt sống ở Mỹ. Nói đến cà phê là nói đến câu chuyện văn hóa tiêu dùng, người Âu, Mỹ sẽ không dùng cà phê kiểu châu Á, họ quen dùng cà phê Arabica. Vì vậy, để ra thế giới, các doanh nghiệp cần thuê chuyên gia thương hiệu quốc tế mới có thể thâm nhập thị trường mục tiêu. Và để làm được việc này phải mất thời gian nghiên cứu thị trường cũng như chi phí đầu tư lớn" - ông Tuấn gợi ý.

 

 

Bệ phóng từ thị trường nội địa

Bà Lê Hoàng Diệp Thảo - Phó Chủ tịch Vicofa, Giám đốc điều hành của TNI King Coffee - nhờ các hiệp định thương mại tự do, Việt Nam đang đứng trước cơ hội để bứt phá và vươn mình thành cường quốc số 1 về cà phê. "Nếu chúng ta nâng cao giá trị ngành cà phê Việt Nam, chúng ta sẽ có cơ hội đạt 2 thành tựu quan trọng. Thứ nhất là gia tăng sản lượng cà phê chế biến có giá trị cao. Thứ hai là gia tăng tiêu thụ cà phê ở thị trường nội địa từ 1,68 kg/người (năm 2019) lên 3 kg/người (năm 2023). Và chỉ khi có được sức mạnh nội lực, vững chãi trên thị trường nội địa, cà phê Việt Nam mới có cơ hội để được đối xử bình đẳng, được tôn trọng, được trả giá đúng với giá trị mà người nông dân và các nhà sản xuất Việt Nam đã bỏ ra, góp phần tạo dựng nên thương hiệu chung cho ngành cà phê Việt Nam" - bà Thảo nhấn mạnh. S.Nhung

 

Bài và ảnh: Ngọc Ánh (Báo NLĐ)

 

Sau nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây mưa lũ tại Tây Nguyên từ tháng 10 đến đầu tháng 11, tại nhiều vùng cà phê trọng điểm của Việt Nam đã có nắng liên tục từ hơn chục ngày nay.

Cà phê trên cây chín dần. Nhà vườn đã bắt đầu thu hoạch dù chưa phải đại trà. Đến nay, ước chừng 12% diện tích đã được hái tại một số vườn có tỷ lệ trái chín nhiều nhưng chỉ chừng 4% lượng hàng có thể ra thị trường do còn qua khâu sơ chế và phơi sấy.

Sản lượng cà phê Việt Nam năm nay ước đạt 30,2 triệu bao (1 bao = 60 ki-lô-gam) theo bản dự báo được phát hành giữa năm 2020 của Bộ Nông nghiệp Mỹ. Tuy nhiên, một số nhà vườn và nhà xuất khẩu cho rằng con số ấy có thể hơi quá vì chưa đánh giá hết diện tích cà phê được chuyển sang trồng các loại cây khác như hồ tiêu, chanh dây, sầu riêng, bơ, chuối… vì đầu tư cà phê những năm trước không lợi bằng các loại cây nông nghiệp khác.

Anh Hào, một chủ vựa tại xã Thuận Hạnh, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông cho biết đã bắt đầu mua lai rai “chục tấn có”. Nhờ ít mưa hơn nơi khác, cà phê vùng anh ở chín sớm hơn. “Chất lượng cà phê năm nay tốt không thua gì năm ngoái nhờ mưa liên tục nên nhà vườn không hái vội, đợi đến nắng nhiều mới thu hoạch nên vị nếm cà phê ‘chấp’ luôn cả năm trước”, anh Hào kể.

Mưa bão liên tục từ đầu niên vụ tính từ ngày 1-10 không chỉ làm chậm thời vụ thu hoạch, nó còn làm mua bán xuất khẩu không “đều tay”. Ước trong hai tháng đầu niên vụ, xuất khẩu cà phê Việt Nam chỉ đạt 180.000 tấn, trong đó số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan báo tháng 10 đạt 90.000 tấn. Đáng ra lượng xuất khẩu tháng 11 thường cao hơn, nhưng thời tiết ẩm ướt đã hạn chế rất nhiều đường ra thị trường của hột cà phê năm nay.

Thời tiết không thuận lợi cho thu hoạch có thể là một trong nhiều lý do giúp giá cà phê cải thiện nhiều trên hai sàn cà phê phái sinh trong thời gian qua. Tính đến ngày 21-11, trong tháng 11 này, giá đóng cửa sàn robusta London, nơi các nhà kinh doanh cà phê thường dùng để tham chiếu, tăng 60 đô la Mỹ/tấn từ 1.351 lên 1.411 đô la/tấn (tăng 4,44%). Còn cà phê arabica New York tăng 14,65 cts/lb tương đương với 323 đô la/tấn (tăng 13,37%), từ 109,55 lên 124,20 cts/lb.

Tuần qua, thị trường chứng kiến hai cú tăng đột phá trên hai sàn cà phê. Giá robusta ngày 26-11 đóng cửa tăng trên 43 đô la/tấn và arabica chốt phiên cuối tuần tăng 7,05 cts/lb hay 155 đô la/tấn. Nhờ vậy, giá New York lên mức cao nhất từ hai tháng rưỡi và London cao nhất tính từ một tuần nay.

Hướng dài hạn còn tích cực?

Giải thích cho đợt tăng mạnh trên hai sàn cà phê phái sinh tuần qua, một số nhà phân tích cho rằng nhờ giá trị đồng đô la Mỹ giảm xuống mức sâu nhất tính từ giữa năm 2018 đến nay, đóng cửa gần nhất chỉ còn 91,82 điểm. Đồng đô la Mỹ yếu giúp các nhà kinh doanh giảm chi phí tài chính và tăng mua nhiều hơn.

Hơn nữa, gần đây, một số dự báo cán cân cung cầu và giá cả cà phê cho các ngày tháng tới khá thuận lợi cho thị trường cà phê. Tập đoàn kinh doanh Volcafe (Thụy Sĩ) dự đoán rằng niên vụ 2021-2022, thế giới sẽ thiếu hụt chừng 11 triệu bao cà phê. Ngân hàng nông nghiệp Hà Lan Rabobank ước lượng dư thừa giai đoạn ấy chỉ ở mức 2,2 triệu bao so với 10,2 triệu bao do chính họ dự báo trước đó. Người trên thị trường nhận định rằng dù con số khác nhau, nhưng hai dự báo đều có chung một điểm: nguồn cung cà phê niên vụ 2021-2022 của thế giới giảm.

Điều này phù hợp với dự báo giá cà phê trên sàn arabica New York do Goldman Sachs đưa ra vào giữa tháng 11 rằng giá tới cuối năm nay quanh 112 cts/lb, nhưng trong vòng 6 tháng sau đó lên chừng 120 cts/lb và cuối năm 2021 chừng 135 cts/lb. Dự báo của Goldma Sachs phát hành  khi mức giá trên sàn New York quanh mức 110 cts/lb.

Không nhất thiết phải tin vào độ chính xác của các dự báo, nhiều người thấy rằng tâm lý chung của thị trường đang thiên về hướng tăng. Qua đó, các quỹ đầu tư tài chính trên hai sàn cà phê sẽ phải dè dặt trước khi quyết định chuyển sang bán ròng để đẩy giá cà phê xuống.

Giá cà phê tiêu chuẩn xuất khẩu loại 2, tối đa 5% đen bể trên thị trường nội địa hiện nay đang quanh mức 34 triệu đồng/tấn, sau khi chạm đỉnh cao nhất trong năm là 35 triệu lập vào đầu tháng 11-2020 so với mức thấp nhất là 29 triệu đồng/tấn xuất hiện vào cuối tháng 4-2020 khi London xuống dưới 1.200 đô la Mỹ/tấn.

Nguyễn Quang Bình (thesaigontimes)

Ngày 11/11, Hiệp hội Xuất khẩu cà phê Brazil (Brazil -Cecafe) cho biết trong tháng 10/2020, nước này đã xuất khẩu 4,1 triệu bao cà phê (loại 60 kg/bao), tăng 11,5% tương đương với 422.000 bao so với cùng kỳ năm trước.

Đây là mức xuất khẩu cao kỷ lục theo tháng của quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới này.

Trước đó, cà phê bán ra thị trường nước ngoài của Brazil vào tháng 9/2020 cũng đạt mức kỷ lục 3,79 triệu bao. Nhờ doanh số bán cà phê ra thị trường nước ngoài tăng vọt trong tháng 9-10/2020, lượng cà phê xuất khẩu của Brazil trong 10 tháng của năm nay lên tới 35,01 triệu bao với giá trị 4,43 tỷ USD, cao nhất cả về khối lượng cũng như giá trị trong vòng 5 năm trở lại đây.

Trong các sản phẩm cà phê Brazil xuất khẩu vào 10 tháng của năm nay, cà phê chè (arabica) đạt kim ngạch cao nhất và chiếm 78,4% tổng lượng cà phê bán ra thị trường quốc tế, tiếp theo là cà phê vối (robusta, 12%) và cà phê hòa tan (9,5%).

Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ số một cà phê của Brazil, chiếm 18,4% tổng lượng xuất khẩu cà phê của quốc gia Nam Mỹ này. Trong khi đó, nhập khẩu mặt hàng này của Đức, Bỉ, Italy và Nhật Bản chiếm lần lượt 16,8%, 8,2%, 7,3% và 5,1%.

Theo Chủ tịch của Cecafe Nelson Carvalhaes, bất chấp những tác động mạnh do đại dịch COVID-19 gây ra, chuỗi sản xuất và kinh doanh cà phê tại Brazil tiếp tục đạt hiệu quả cao. Trong khi đó, doanh số xuất khẩu tăng mạnh là nhờ nhu cầu về cà phê tăng cao trở lại trên thị trường thế giới, cùng với đó các doanh nghiệp xuất khẩu của nước này đã khắc phục được một số khó khăn về mặt hậu cần liên quan đến việc thiếu hụt côngtenơ và tàu chở hàng trong thời gian qua.

Ông Carvalhaes cho rằng kết quả xuất khẩu khả quan khẳng định xu hướng tăng cường sự hiện diện của cà phê Brazil tại thị trường nước ngoài. Đến nay cà phê Brazil đã có mặt tại 122 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Ngọc Tùng (Pv TTXVN tại Buenos Aires)

Page 1 of 131

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Phone: 0905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

     
ĐT: 098 998 9992 - (058)3838666 (Ms Hằng)

     
ĐT: 0901 307 308 - (058)3838666 (Ms Thanh)

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

MASCOPEX

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]