Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Tăng phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhân viên y tế; người lao động dôi dư nghỉ hưu trước tuổi không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu là những chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi người lao động sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2023…
Từ tháng 1/2023, nhiều chính sách mới về lao động - tiền lương, bảo hiểm xã hội, phụ cấp với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động sẽ chính thức có hiệu lực.
Điều chỉnh tăng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cán bộ y tế dự phòng và y tế cơ sở
Theo Nghị quyết số 69/2022/QH15 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2023, từ ngày 1/1/2023, thực hiện điều chỉnh tăng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cán bộ y tế dự phòng và y tế cơ sở theo Kết luận số 25-KL/TW ngày 30/12/2021 của Bộ Chính trị.
Chế độ bảo hiểm xã hội, hỗ trợ đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước
Nghị định 97/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi chuyển đổi sở hữu, sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có hiệu lực từ ngày 15/01/2023.
Trong đó, chính sách đối với người lao động dôi dư được tuyển dụng lần cuối cùng trước ngày 21/4/1998 hoặc trước ngày 26/4/2002 như sau: Lao động dôi dư có tuổi thấp hơn từ đủ 1 - 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu, có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên thì được hưởng lương hưu và các chế độ gồm: Không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi; trợ cấp 3 tháng tiền lương/năm (đủ 12 tháng, không tính tháng lẻ) nghỉ hưu trước tuổi so với tuổi nghỉ hưu; được hỗ trợ khoản tiền bằng 0,4 mức lương tối thiểu tháng tính bình quân cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội.
Lao động dôi dư có tuổi thấp hơn dưới 1 tuổi so với tuổi nghỉ hưu, có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên được hưởng lương hưu và các chế độ gồm: Không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi; hỗ trợ khoản tiền bằng 0,2 mức lương tối thiểu một tháng bình quân cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội.
Lao động dôi dư đủ tuổi nghỉ hưu nhưng còn thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tối đa 06 tháng để đủ điều kiện hưởng lương hưu thì được Nhà nước đóng một lần cho số tháng còn thiếu vào quỹ hưu trí và tử tuất để giải quyết chế độ hưu trí…
Hướng dẫn mới về thu đoàn phí, kinh phí công đoàn
Nội dung hướng dẫn thu đoàn phí, kinh phí công đoàn được đề cập tại Hướng dẫn 65/HD-TLĐ và Quyết định 5440/QĐ-TLĐ ngày 10/10/2022. Trong đó, quỹ tiền lương xác định thu kinh phí công đoàn năm 2023 tại các đơn vị được xác định từ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động bình quân 6 tháng đầu năm 2022 có xác định yếu tố tăng trưởng (theo số liệu của cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp) nhân với số lao động thuộc đối tượng phải đóng kinh phí công đoàn.
Mức đóng kinh phí công đoàn hiện hành bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Còn số thu đoàn phí công đoàn năm 2023 được xác định trên số đoàn viên thực tế (có đối chiếu với Ban Tổ chức Tổng Liên đoàn) tại các công đoàn cơ sở nhân với tiền lương và phụ cấp của đoàn viên.
Giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần xác thực bằng chữ ký số
Quy trình giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần áp dụng thí điểm xác thực qua chữ ký số được tích hợp trong ứng dụng trên thiết bị di động theo Quyết định 422/QĐ-TTg ban hành kèm theo Quyết định 3612/QĐ-BHXH năm 2022. Đối tượng áp dụng thí điểm là người hưởng bảo hiểm xã hội một lần, đã được cấp sổ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Để thực hiện quy trình này, người lao động kê khai đầy đủ, chính xác thông tin theo Mẫu số 14A-HSB được cung cấp trên Cổng dịch vụ công, thực hiện ký số vào Mẫu số 14A-HSB, đăng tải các hồ sơ điện tử hoặc dẫn nguồn tài liệu từ Kho quản lý dữ liệu điện tử của cá nhân và nộp hồ sơ trên Cổng Dịch vụ công.
Người lao động không phải khai, nộp lại dữ liệu, hồ sơ, giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu do cơ quan bảo hiểm xã hội đang quản lý hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền số hóa, lưu giữ, kết nối, chia sẻ thông tin với Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử. Các bước tiếp tiếp theo sẽ do cán bộ liên quan thực hiện.
Nguồn: Vneconomy
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh trong những ngày gần đây. Đặc biệt, trước nhu cầu lớn từ các thị trường vào dịp cuối năm, các doanh nghiệp Việt đang đầy ắp đơn hàng, dự báo xuất khẩu gạo cả năm có thể đạt hơn 7 triệu tấn với trị giá kỷ lục gần 4 tỷ USD.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường tiếp tục tăng trong những ngày gần đây. Ngày 24/12, giá chào bán gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam ở mức 453 USD/tấn (tăng 10 USD/tấn so với đầu tháng 12); gạo 25% tấm có giá bán ở mức 438 USD/tấn (tăng 5 USD/tấn).
Không chỉ trong tháng 12, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong mấy tháng qua cũng liên tục tăng mạnh. Chỉ riêng trong tháng 11, giá gạo Việt Nam xuất khẩu tăng trung bình khoảng 30 USD/tấn so với thời điểm Ấn Độ ban hành chính sách hạn chế xuất khẩu gạo.
Hiệp hội lương thực Việt Nam đánh giá, do thị trường thế giới biến động, ảnh hưởng của chính trị, kéo theo nhu cầu lương thực tăng cao. Do đó, gạo Việt xuất đi các nước sẽ neo ở mức cao, thậm chí còn cao hơn các năm. Điều này cũng cho thấy, gạo Việt Nam đã xây dựng được vị thế vững chắc trên thị trường gạo quốc tế.
Theo các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hiện chất lượng và độ an toàn thực phẩm của gạo Việt Nam ngày được nâng cao nên được nhiều thị trường cao cấp trên thế giới lựa chọn; các nước nhập khẩu gạo lớn gồm Trung Quốc, châu Phi và khu vực Đông Nam Á như Philippines, Indonesia… đang có nhu cầu lớn mua gạo Việt Nam. Trong đó, thị trường Philippines chuộng mua các loại gạo như: DT8, OM18 và OM5451, vì ngoài chất lượng và an toàn thực phẩm thì gạo Việt Nam do tính chất mùa vụ nên luôn đảm bảo độ tươi mới.
Việc gạo Việt Nam vừa có giá bán cao, vừa đầy ắp đơn hàng trong dịp cuối năm, giúp các doanh nghiệp gạo rất phấn khởi. Một số doanh nghiệp cho biết, trong rất nhiều năm qua, chưa năm nào giá gạo thơm ST24, ST25 xuất khẩu sang thị trường Trung Đông, châu Âu có giá trên 1.000 USD/tấn. Cùng với đó, có 22 doanh nghiệp Việt đang được cấp phép xuất gạo tẻ, gạo thơm, gạo nếp vào Trung Quốc với giá cao.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), tính đến hết tháng 11, gạo xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 600.000 tấn với giá trị 296 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo trong 11 tháng của năm 2022 đạt lần lượt 6,7 triệu tấn và 3,2 tỉ USD (tăng 6,9% so với cùng kỳ 2021).
Dự tính, trong tháng 12, Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng hơn 600.000 tấn gạo. Với đà này, năm 2022, xuất khẩu gạo đạt hơn 7 triệu tấn, trị giá kỷ lục gần 4 tỷ USD.
Dự báo, xuất khẩu gạo trong những tháng đầu năm 2023 tiếp tục tăng trưởng do thời tiết khắc nghiệt ở nhiều quốc gia châu Á, nơi chiếm 90% sản lượng gạo toàn cầu; tình trạng biến đổi khí hậu, hạn hán gay gắt ở Mỹ, châu Âu và Trung Quốc - nước có nhu cầu tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới, đang đặt nguồn cung gạo vào tình trạng thiếu hụt.
Nguồn: Báo điện tử Thị Trường Nông Sản
Giá cà phê hôm nay 26/12 trong khoảng 40.100 - 40.800 đồng/kg. Hiện nay lãi suất điều hành và cho vay kinh doanh của ngân hàng tại các nước tiêu thụ, đang làm giá cà phê bất ổn nhiều hơn là chuyện thiếu hay thừa hàng.
Tại huyện Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lộc (Lâm Đồng) giá cà phê hôm nay được thu mua với mức 40.100 đồng/kg.
Tại huyện Cư M'gar (Đắk Lắk) giá cà phê hôm nay ở mức 40.700 đồng/kg. Tại huyện Ea H'leo (Đắk Lắk), Buôn Hồ (Đắk Lắk) giá cà phê hôm nay được thu mua cùng mức 40.300 đồng/kg.
Tương tự tại tỉnh Đắk Nông, giá cà phê hôm nay thu mua ở mức 40.800 đồng/kg tại Gia Nghĩa và 40.700 đồng/kg ở Đắk R'lấp.
Tại tỉnh Gia Lai, giá cà phê hôm nay ở mức 40.800 đồng/kg (Chư Prông), ở Pleiku và La Grai cùng giá 40.700 đồng/kg.
Còn giá cà phê hôm nay tại tỉnh Kon Tum được thu mua với mức 40.700 đồng/kg. Thị trường cà phê trong nước đi ngang tại các địa phương so với cùng thời điểm sáng hôm qua.
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta tại London giao tháng 3/2023 giảm 3 USD/tấn ở mức 1.875 USD/tấn, giao tháng 5/2023 giảm 4 USD/tấn ở mức 1.845 USD/tấn. Trong khi đó trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 3/2023 tăng 3,1 cent/lb, ở mức 172 cent/lb, giao tháng 5/2023 tăng 2,85 cent/lb, ở mức 171,6 cent/lb.
Tổng kết tuần trước, thị trường cà phê London có 3 phiên tăng và 2 phiên giảm. Giá cà phê Robusta kỳ hạn giao ngay tháng 3 tăng tất cả 9 USD, tức tăng 0,48 %, lên 1.975 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 5 cũng tăng tất cả 9 USD, tức tăng 0,49 %, lên 1.845 USD/tấn, các mức tăng nhẹ. Khối lượng giao dịch trên mức trung bình.
Tương tự, thị trường New York có 3 phiên tăng và 2 phiên giảm đan xen. Giá cà phê Arabica kỳ hạn giao ngay tháng 3 tăng tất cả 7,60 cent, tức tăng 4,62 %, lên 172,00 cent/lb, và kỳ hạn giao tháng 5 tăng tất cả 7,00 cent, tức tăng 4,25 %, lên 171,60 cent/lb, các mức tăng khá mạnh. Khối lượng giao dịch ở mức trung bình.
Nổi bật trong tuần là lo ngại rủi ro tăng cao khi báo cáo lây nhiễm Covid-19 gia tăng trở lại khiến thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất thế giới đã không sôi động như kỳ vọng. USDX tiếp tục được lựa chọn làm nơi trú ẩn an toàn của dòng vốn đầu cơ sau khi GDP quý III của Mỹ được điều chỉnh lên 3,2% thay vì chỉ ở mức 2,6% như đã báo cáo trước đó. Điều này đã làm nhà đầu tư Phố Wall lo ngại Fed sẽ mạnh tay thắt chặt chính sách tiền tệ tại kỳ họp đầu năm 2023.
Theo chuyên gia Nguyễn Quang Bình, lãi suất điều hành và cho vay kinh doanh của ngân hàng tại các nước tiêu thụ đang làm giá cà phê bất ổn nhiều hơn là chuyện thiếu hay thừa hàng. Chính vì thế mà một lúc nào đó chỉ cần có một tin thất lợi về sản lượng hay cung cầu cà phê dù thật hay giả, thị trường cà phê có thể nhảy “xổm” một cách chóng vánh rồi đâu lại vào đấy.
Vị chuyên gia dự đoán, nếu như giá cà phê Robusta London hiện nay quanh mức 1.880 USD/tấn thì trong năm tới lại quay về quanh 1.800 như là trục chính để có lúc về đến 1.700. Dịp tăng có thể xảy ra trong thời kỳ gạch nối giữa 2022 và 2023 nhưng 1.920 USD/tấn là một kỳ vọng khó đạt. Còn sàn Arabica New York đang phấn đấu tìm lại 180-185 cts/lb nhưng cũng rất khó trụ ở đó mà về quanh trục 160 cts/lb trong năm. Cơ hội lên trên 180 cts/lb đang tiến triển trên sàn này nhưng khó mà kỳ vọng đạt 190 cts/lb.
Nguồn: Báo điện tử Kinh Tế Đô Thị
Giá tiêu trong nước hôm nay không có thay đổi so với 1 ngày trước đó, giá tiêu kết thúc tuần với giá giao dịch cao nhất ở mức 59.500 đồng/kg.
+ Giá tiêu trong nước
Giá tiêu trong nước hôm nay duy trì đà đi ngang khi không có sự biến động so với ngày trước đó, mức giao dịch 59.500 đồng/kg là mức cao nhất cả nước ghi nhận tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tại tỉnh Bình Phước, giá tiêu hôm nay giao dịch ở mức 58.500 đồng/kg, không có thay đổi so với ngày hôm qua.
Giá tiêu hôm nay tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông, giá tiêu hôm nay không có biến động, ở mức 58.500 đồng/kg.
Giá tiêu hôm nay tại Đồng Nai ở mức 57.000 đồng/kg, không có thay đổi so với phiên giao dịch trước đó và là mức giao dịch thấp nhất cả nước.
Tại tỉnh Gia Lai, giá tiêu hôm nay ghi nhận ở mức 57.500 đồng/kg, giữ nguyên so với một ngày trước.
| Địa phương | Giá (đồng) | Thay đổi so với 1 ngày trước (đồng) |
| Bà Rịa - Vũng Tàu | 59.500 | - |
| Bình Phước | 58.500 | - |
| Đắk Lắk | 58.500 | - |
| Đắk Nông | 58.500 | - |
| Đồng Nai | 57.000 | - |
| Gia Lai | 57.500 | - |
+ Dự báo giá tiêu
Theo ghi nhận, vụ thu hoạch hồ tiêu 2023 đang bắt đầu tại một số huyện ở Đắk Nông và qua Tết sẽ vào vụ thu hoạch rộ, dự kiến sản lượng sẽ tăng nhẹ so với năm 2023.
Tính đến ngày 19/12, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam thống kê được xuất khẩu tiêu đạt hơn 222.000 tấn, kim ngạch đạt gần 988 triệu USD.
Ước tính xuất khẩu cả năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu chưa chạm mốc 1 tỷ USD như những năm trước.
Nguyên nhân do yếu tố khách quan kinh tế thế giới suy thoái ở nhiều thị trường trọng điểm. Xuất khẩu khó khăn làm giá hồ tiêu nguyên liệu tại Việt Nam liên tục giảm.
Bên cạnh đó, chi phí tăng khiến người trồng tiêu gặp nhiều khó khăn.
Bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPA, một trong những yếu tố tích cực trong hoạt động xuất khẩu hồ tiêu năm 2022 là nhờ Việt Nam đã ký hiệp định thương mại tự do với châu Âu (EVFTA) nên xuất khẩu hồ tiêu sang thị trường này có nhiều lợi thế về thuế suất 0% so với các đối thủ khác như Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka hay Campuchia.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất với thị trường này là các quy định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm thường xuyên thay đổi theo hướng ngày càng nghiêm ngặt hơn. Chính vì vậy, doanh nghiệp và người nông dân (hợp tác xã) cần liên kết chặt với nhau trong sản xuất để tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định và bền vững, đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường.
“Kỳ vọng trong năm 2023, với sự mở cửa của thị trường Trung Quốc sau dịch và sự phục hồi của thị trường hồ tiêu nói chung, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam sẽ trở lại danh sách cây trồng tỉ đô”, bà Liên nói.
Cập nhật giá hồ tiêu thế giới
Trên thị trường thế giới, giá tiêu hôm nay duy trì sự ổn định so với một ngày trước đó. Cụ thể, tại Indonesia, giá tiêu đen Lampung giữ ở mức 3.589 USD/tấn. Còn giá hạt tiêu trắng Muntok của quốc gia này neo tại mức 5.928 USD/tấn.
Giá tiêu đen Kuching ASTA của Malaysia tiếp tục giữ ở mức 4.900 USD/tấn; còn hạt tiêu trắng ASTA của quốc gia này đang ở mức giá 7.300 USD/tấn.
Đối với thị trường Brazil, giá hạt tiêu đen ASTA 570 vẫn giữ ở mức 2.500 USD/tấn.
Còn tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500g/l và 550g/l neo tại mức 3.050 - 3.150 USD/tấn. Và giá tiêu trắng giữ ở mức 4.550 USD/tấn.
Tuần này, giá tiêu thế giới biến động trái chiều. Theo đó, Cộng đồng Hồ tiêu thế giới (IPC) chỉ niêm yết tăng tại Sri Lanka. Trong khi đó, giá tiêu Ấn Độ ổn định, còn giá tiêu đen Indonesia có xu hướng giảm.
Trên thị trường, tiêu Kampot ở Campuchia được đánh giá cao nhất, là giống duy nhất được bảo vệ theo chỉ dẫn địa lý quốc gia (GI).
Ông Nguon Lay, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến Hồ tiêu Kampot (KPPA), cho biết giá mỗi kg hạt tiêu Kampot vẫn ổn định và không đổi trong vài năm, ở mức 15 USD cho tiêu đen, 25 USD cho tiêu đỏ và 28 USD cho tiêu trắng.
Ông Lay nhấn mạnh: “Bằng mọi giá, tôi muốn khuyến khích bất cứ ai muốn xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc nên đăng ký càng sớm càng tốt để thúc đẩy xuất khẩu”.
Theo Bộ Nông nghiệp Campuchia, tổng xuất khẩu hạt tiêu của nước này ghi nhận mức 7.704,25 tấn trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10, đánh dấu mức giảm 72,12% so với cùng kỳ năm ngoái từ 27.633,77 tấn.
Trong đó, Việt Nam là thị trường mua phần lớn ở mức 6.645,78 tấn (tương đương 86,26%), tiếp theo là Đức, Mỹ, Đài Loan và Pháp.
Nguồn: THANH LÂM (VTC)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "