PHÒNG KTTH

PHÒNG KTTH

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Kinh tế tổng hợp (Email: info@mascopex.com)

(KTSG Online) - Việc Ủy ban châu Âu (EC) và các nước Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Anh, Ý thống nhất đưa Nga ra khỏi hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT vào ngày 26-2 vừa qua đã tác động đến hoạt động thanh toán toàn cầu. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đến nay không chỉ Trung Quốc, mà cả Nga, Iran, Ấn Độ và một số nước ở châu Âu, châu Á đã chấp nhận thanh toán bằng đồng nhân dân tệ của Trung Quốc, đồng ruble của Nga và đồng rupee của Ấn Độ trong thương mại. Điều này đã góp phần làm thay đổi vị trí của các đồng tiền chủ chốt trong cán cân dự trữ thanh toán trên thế giới.

Giá tiêu hôm nay 4/10 tại thị trường trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm 500 đồng/kg tại khu vực Tây Nguyên.

Cụ thể, tại tại Gia Lai, giá tiêu hôm nay được thương lái thu mua ở mức 62.500 đồng/kg, giảm 500 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, Đắk Nông giá tiêu hôm nay còn 63.500 đồng/kg, giảm 500 đồng/kg.

Trong khi đó, tại Đông Nam bộ, giá tiêu duy trì ổn định. Tại Bình Phước, giá tiêu hôm nay ở mức 64.500 đồng/kg. Tại Bà Rịa Vũng Tàu, giá tiêu mới nhất hôm nay dao động quanh mốc 65.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai ở mức 65.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá tiêu tiếp tục diễn biến tiêu cực khi điều chỉnh giảm ở nhiều quốc gia. Tại phiên giao dịch ngày 3/10, Cộng đồng Hồ tiêu thế giới niêm yết 15 USD/tấn với tiêu đen Lampung của Indonesia và giảm mạnh 800 USD/tấn với tiêu đên Malaysia. Theo đó, tiêu đen Malaysia ở mức 5.100 USD/tấn.

Với các quốc còn lạ, giá tiêu duy trì ổn định. Hiện tiêu đen Việt Nam loại 500g/l ở mức 3.300 USD/tấn, tiêu đen 550g/l ở mức 3.400 Usd/tấn. Tiêu đen Brazil 2.650 Usd/tấn.

Với tiêu trắng, tiêu tắng Muntok (Indonesia) giảm 24 USD/tấn xuống còn 6.195 USD/tấn; tiêu trắng Malaysia giảm 300 USD/tấn xuống còn 7.300 USD/tấn. Trong khi đó tiêu trắng Việt Nam ổn định ở mức 4.900 USD/tấn

Nhu cầu tiêu thụ yếu vẫn là yếu tố kìm hãm sự phục hồi của giá hồ tiêu hiện tại và trong trung hạn. Dự báo trong ngắn hạn, giá hồ tiêu thế giới tiếp tục giảm do đồng USD tăng mạnh. Việc Fed nâng lãi suất nhằm hạn chế lạm phát đã đẩy đồng USD chảy ngược vào Mỹ.

Tuy vậy, xuất khẩu trong nửa đầu tháng 9/2022 đạt 5.983 tấn tiêu các loại, giá trị kim ngạch 23,87 triệu USD, đưa xuất khẩu tiêu 8,5 tháng đầu năm lên đạt 166.672 tấn, giảm 18,30% về lượng nhưng lại tăng 7,98% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

Hiện, thị trường hồ tiêu toàn cầu tiếp tục chịu áp lực do căng thẳng địa chính trị tại Đông Âu và chính sách “Zero Covid” của Trung Quốc.

Sau một thời gian dài ngừng hoạt động, các thương nhân Trung Quốc cũng đã trở lại thu mua tại Việt Nam và Indonesia. Tuy nhiên, sức mua vẫn còn hạn chế và nhu cầu của các khu vực khác như Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) không tăng.

Trước đó, nhận định về thị trường tiêu toàn cầu trong thời gian tới, bà Firna Azura Ekaputri Hj. Marzuki, Giám đốc Điều hành của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), cho rằng, thị trường tiếp tục nằm trong vùng giảm giá trong quý III năm nay.

Cũng theo đại diện của IPC, Trung Quốc đã quay trở lại mua tiêu nhưng điều này có thể không đủ để thúc đẩy thị trường do Brazil và Indonesia đang bước vào mùa thu hoạch trong năm 2022. IPC kỳ vọng thị trường hồ tiêu sẽ ổn định và tăng lên trong tháng 11 và tháng 12 tới.

Mặc dù vậy, cho tới hiện nay, giới chuyên gia nhận định, nhìn vào bức tranh kinh tế vĩ mô thì thị trường hồ tiêu không mấy sáng sủa cho đến đầu năm 2023.

Bảng giá tiêu hôm nay ngày 4/10

Địa phương

ĐVT

Giá mua của thương lái (đồng)

Tăng/giảm so với hôm qua

Chư Sê (Gia Lai)

kg

62.500

- 500

Đắk Lắk

kg

63.500

- 500

Đắk Nông

kg

63.500

- 500

Bình Phước

kg

64.500

-

Đồng Nai

kg

65.000

-

Bà Rịa – Vũng Tàu

kg

65.500

-

Nguồn: Hà Duyên - Báo Công Thương online

Thị trường cà phê nhìn theo yếu tố cung-cầu

Sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2022/23 được Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) ước tăng 7,8 triệu lên 175 triệu bao nhờ arabica Brazil vào chu kỳ được mùa. Trong đó, USDA dự đoán sản lượng arabica Brazil chừng 41,5 triệu bao và robusta 22,8 triệu bao, Việt Nam 30,8 triệu bao chủ yếu robusta, Colombia 13 triệu bao arabica, Indonesia 11,4 triệu bao gồm 10 triệu bao robusta. Tiêu thụ cà phê ước ngang bằng hay tăng không đáng kể lên trong vùng 170-171 triệu bao nếu lấy con số của ICO. Thặng dư từ 5-8 triệu bao cà phê trong niên vụ mới. Như vậy, chỉ cần sản lượng của 4 nước xuất khẩu hàng đầu với tổng cộng chừng 120 triệu bao, đã có thể thỏa mãn 68% nhu cầu tiêu thụ thế giới.

Yếu tố tiền tệ dưới tác động của lạm phát

Giá trị đồng USD mạnh lên phá giá các đồng nội tệ khác. Ngay cả các đồng tiền mạnh như Bảng Anh (GBP), Euro, Nhân dân tệ (CNY)…kể cả hai đồng nội tệ của hai nước Brazil và Việt Nam là Reais Brazil (BRL) và VN Đồng (VND) cũng yếu đi nhiều so với USD. Mới đây, giá trị GBP rớt về mức thấp lịch sử trong cặp tỷ giá USDGBP, đồng Euro có lúc lõm xuống dưới USD, CNY giảm xuống mức sâu nhất tính từ 14 năm nay, VND qua mức 24.000 VND ăn 1 USD…

Một đồng USD mạnh khiến giá trị đồng tiền các nước giảm, nhất là các nước tiêu thụ, nên cản trở nhập khẩu. Mặt khác, lạm phát cao cũng làm người tiêu thụ phải đắn đo trước quày hàng, quán xá. Lãi suất điều hành tại các nước nhập khẩu tăng cao hạn chế nhà kinh doanh gom trữ hàng để bán đường dài.

Đối với nước xuất khẩu, đồng tiền mất giá sẽ tạo thêm sức ép bán mạnh vì thu nhập tính theo đồng nội tệ lớn hơn. Nếu kết hợp với yếu tố thặng dư cà phê, thì áp lực bán từ cả 2 phía từ tác động của đồng nội tệ bị mất giá so với USD và bản thân nguồn cung dồi dào. Trường hợp lạm phát tại các nước tiêu thụ và lãi suất điều hành tăng càng gây căng thẳng thêm cho dòng chảy đưa hàng ra thị trường nước ngoài. Chính vì thế, hàng hóa có khi phải đi lòng vòng trong nước. Hệ quả sẽ là giá cà phê nội địa đôi lúc cao hơn giá mua có thể được nhà nhập khẩu chấp nhận. Điều này sẽ gây ách tắc cho kinh doanh, ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu chung.

Giá cả

Dịch Covid-19 tạo nên khủng hoảng logistics, gây đứt gãy chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu. Chiến tranh Nga-Ukraine gây thêm khó khăn nhất là nguồn phân bón khan hiếm, giá năng lượng đắt đỏ, chi phí sản xuất tăng cao. Tình trạng này đã phản ánh lên giá cả trên hai sàn và cả trên thị trường nguyên liệu trong nước.

Giá kỳ hạn robusta tháng 01/23 có lúc chạm 2.499 USD/tấn (27/12/21) và giá arabica tháng 12/22 chạm đỉnh 260.45 cts/lb nhưng sau đó London về đáy 1.905 USD/tấn và New York 199.20 cts/lb nhưng lại phục hồi để 2 sàn đứng tại mức đóng cửa tại phiên giao dịch cuối niên vụ là robusta 2.146 USD/tấn và arabica 212.55 cts/lb.

Cấu trúc giá đảo nghịch (backwardation) hay người trên thị trường thường gọi là “vắt giá”, xuất hiện trên cả hai sàn do khủng hoảng thiếu containers làm tồn kho đạt chuẩn giảm. “Vắt giá” đã tác động để giúp giá cà phê phục hồi và đứng ở mức cao và các quỹ đầu tư tài chính tăng cường mua khống để “thủ” cho vị thế kinh doanh của họ. Như vậy, bao lâu tình trạng vắt giá hạ nhiệt, cũng có nghĩa là tình hình tàu bè ổn định, thì giá cả mới dịu bớt.

Nhiều người dự đoán giá bình quân trên hai sàn cà phê phái sinh trong năm 2022 arabica quanh mức 195-200 cts/lb, robusta trong khoảng 2.000 USD/tấn với dung sai +/-100 USD. Như vậy, nếu sàn giải quyết được hiện tượng giá đảo nghịch, giá dễ xuống vùng thấp, nếu còn vắt giá, sẽ lơ lửng tại vùng cao của các dự đoán ấy.

Giá cà phê nguyên liệu tại các nước sản xuất, nhất là tại Việt Nam, không nhất thiết phải theo giá trên sàn như một “tham chiếu cứng”. Thị trường nội địa phần lớn phụ thuộc vào tình hình mất giá của các đồng nội tệ nếu dựa trên cơ sở hiện nay là 47-48 triệu đồng/tấn.

Qua năm 2023 có thể khác đi vì Brazil vào chu kỳ năm mất mùa cho niên vụ 2023/24. Dự đoán về giá còn phụ thuộc vào đợt ra hoa của Brazil từ tháng 10/22 trở đi và tình hình mưa lũ do La Nina gây nên tại Việt Nam.

Rất có thể rằng đứng trước áp lực tăng lãi suất điều hành của Mỹ, nguồn tín dụng thắt chặt, các nhà kinh doanh trên sàn phải thanh lý ít nhiều các hợp đồng mua khống. Nếu thế giá phái sinh còn yếu trong 3 tháng đầu niên vụ. Nhưng trong nửa đầu năm 2023, do vụ mùa Brazil nhỏ theo quy luật, họ có thể quay lại mua, đồng lúc chương trình tăng lãi suất của các ngân hàng, thì mới hy vọng giá cà phê phái sinh phần nào tốt hơn.

Nguồn: NGUYỄN QUANG BÌNH

Giá đóng cửa 2 sàn cà phê phái sinh 03/10/22

London tháng 11/22 và 1/23

2173+20(2181/2150)

2163+17(2168/2143)

New York tháng 12/22 và 03/23

215.75-5.8(222.65/214.75)

207.35-5.2(213.5/206.5)

Thông số ảnh hưởng giá cà phê

-Giá cách biệt 2 sàn arabica 12/22 với robusta 11/22: 109.23 vs 115,21   cts/lb.

-Chỉ số DXY: 111,55 vs 112,16 (đỉnh trong kỳ 114.74) .

-Giá trị đồng nội tệ Reais Brazil (Brl) trong cặp tỷ giá UsdBrl: 5,16 vs 5,41 Mức thấp kỷ lục 5,99 Brl lập 8/5/2020!

Lời bàn về thị trường:

-Tin đáng quan tâm bậc nhất những ngày đầu vụ cà phê mới 22/23 là hợp đồng đường dài giá cước tàu biển containers giảm ngay cuối tháng 9/22 sau khi tăng phi mã trong thời đại dịch Covid-19. Cước từ Thượng Hải (TQ) đến Los Angeles (Mỹ) giảm hơn 70% tính từ đỉnh lập tháng 9/21 do nhu cầu nhập hàng vào Mỹ giảm và tình trạng ứ đọng hàng hóa tại các kho có phần dễ thở hơn. Tuy vậy, giá cước hiện nay vẫn cao hơn trước tời đại dịch đến 112%. Dù sao thì nghe cước tàu containers giảm, người mua cước cũng cảm thấy nhẹ nhàng hơn.

-Trung Quốc đang bị rắc rối vì nợ. Rõ ràng TQ là nước cho vay lớn nhất thế giới đối với các nước phát triển. Nhưng TQ sẽ gia nhập Câu lạc bộ Paris để giảm hay giãn nợ cho các nước đi vay như trường hợp Zambia chẳng hạn. Ngoài Zambia, còn có các nước như Sri Lanca, Ethiopia, Pakistan, Ghana, Ai Cập…là những con nợ của Trung Quốc, đang chờ TQ giảm hay giãn nợ cho họ.

-Giá cà phê đóng cửa có kết quả nghịch chiều. London tăng tốt nhưng New York giảm sâu.

-Tin mưa rất thuận cho vụ mùa tới tại Brazil đã quét giá arabica đi một cách thương tâm. Đồng BRL được giá trở lại nhưng cũng chẳng giúp gì cho giá arabica.

-Dự kiến giá cà phê nội dịa hôm nay quanh mức 47,4 triệu đồng/tấn, so với hôm qua 47 triệu đồng/tấn. Giá tiêu đen tại Tây Nguyên quanh mức 65-70 triệu đồng/tấn.

Nguồn: NGUYỄN QUANG BÌNH

Page 1 of 162

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

     
Tel: 098 998 9992  (Ms Hằng)

     
Tel: 0901 307 308 (Ms Thanh)

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

MASCOPEX

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]