Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá tiêu hôm nay 21/11 tại thị trường trong nước tiếp tục đi ngang. Hiện giá tiêu trong nước dao động quanh mốc 58.000 – 61.500 đồng/kg.
Cụ thể, tại Gia Lai giá tiêu hôm nay được thương lái thu mua ở mức 58.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, Đắk Nông giá tiêu hôm nay duy trì ở mức 59.500 đồng/kg.
Tương tự, tại khu vực Đông Nam bộ, giá tiêu cũng không có biến động. Tại Đồng Nai, Bình Phước giá tiêu ở mức 60.500 đồng/kg. Tại Vũng Tàu, giá tiêu mới nhất hôm nay dao động quanh mốc 61.500 đồng/kg.
Như vậy giá tiêu tiếp tục đi ngang tại các vùng trồng trọng điểm so với cùng thời điểm hôm qua. Thị trường trong nước đang có chuỗi ngày đi ngang.
Trên thị trường thế giới, giá tiêu hôm nay 21/11 chững lại và đi ngang so với hôm qua. Hiện tại, giá tiêu đen Lampung (Indonesia) ở mức 3.498 USD/tấn. Giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA vẫn giữ ở mức 5.100 USD/tấn. Và giá hạt tiêu đen Brazil ASTA 570 neo ở mức 2.575 USD/tấn.
Đối với mặt hàng hạt tiêu trắng, giá hạt tiêu trắng Muntok của Indonesia ở quanh mốc 5.754 USD/tấn. Còn giá hồ tiêu trắng Malaysia ASTA vẫn giữ có mức 7.300 USD/tấn.
Với tiêu Việt Nam, Cộng đồng Hồ tiêu quốc tế đã niêm yết giá hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam tăng, trong khi hạ giá của Indonesia, đồng thời giữ nguyên ở những thị trường khác. Cụ thể, tiêu đen loại 500g/l tăng thêm 1,61%, ở mức 3.100 USD/tấn; tiêu đen 550g/l tăng 1,56% lên 3.200 USD/tấn; còn tiêu trắng thêm 1,1%, ở mức 4.550 USD/tấn.
Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) nhận định thị trường tiếp tục cho thấy phản ứng trái chiều khi chỉ có giá nội địa Malaysia tăng. Giá tiêu Ấn Độ tuần này phản ứng tiêu cực. Giá tiêu Indonesia tuần này báo cáo có xu hướng giảm do xuất khẩu ít hơn do thiếu hàng. Tuần này IPC liên tiếp điều chỉnh tăng giảm với giá tiêu Indonesia.
Theo thống kê của IPC, xuất khẩu hồ tiêu toàn cầu năm 2020 đạt mức cao nhất từ trước đến nay, với 498,9 nghìn tấn, tăng 3,8% so với năm 2019. Tuy nhiên, xuất khẩu tiêu có xu hướng giảm do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 với mức giảm 1,4% vào năm 2021, và dự đoán xuất khẩu hồ tiêu sẽ tiếp tục giảm vào năm 2022 dưới tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, đặc biệt là trong các thị trường quan trọng như EU và Mỹ.
Trong 5 năm trở lại đây, giá tiêu thế giới biến động theo xu hướng giảm. Năm 2015, giá FOB tiêu đạt đỉnh 10.000 USD/tấn đối với tiêu đen và 14.000 USD/tấn đối với tiêu trắng. Điều này đã dẫn đến việc mở rộng diện tích trồng tiêu ở hầu hết các nước. Do sự bùng nổ về diện tích, ngành gia vị thế giới đã chứng kiến sự sụt giảm về giá tiêu trong giai đoạn 2019 đến đầu năm 2020, với mức giảm 4 - 5 lần so với năm 2016.
Bảng giá tiêu hôm nay 21/11
|
Địa phương |
ĐVT |
Giá mua của thương lái (đồng) |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
kg |
58.000 |
- |
|
Đắk Lắk |
kg |
59.500 |
- |
|
Đắk Nông |
kg |
59.500 |
- |
|
Bình Phước |
kg |
60.500 |
- |
|
Đồng Nai |
kg |
60.500 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
kg |
61.500 |
Nguồn: Báo Công Thương
Việt Nam kết thúc niên vụ cà phê 2021-2022 với khối lượng xuất khẩu đạt mức cao nhất trong 4 năm vừa qua và giá trị kim ngạch cao nhất từ trước tới nay. Vụ thu hoạch cà phê mới đã bắt đầu nhưng trong bối cảnh thị trường tiêu thụ đã trở nên khó khăn do áp lực từ lạm phát ở nhiều nước trên thế giới…
Dẫn số liệu từ Tổng cục Hải quan, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết trong tháng 10/2022, nước ta xuất khẩu 79,8 nghìn tấn cà phê với kim ngạch hơn 207,8 triệu USD. So với tháng trước, xuất khẩu cà phê giảm mạnh 13,7% về lượng nhưng chỉ giảm 8,5% về giá trị do chưa chính thức vào mùa vụ và lượng hàng đã hết.
KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TĂNG GẦN 34%
Tính chung 10 tháng năm 2022, Việt Nam đã xuất khẩu 1,42 triệu tấn cà phê, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu tăng rất mạnh 33,7% giá trị so với cùng kỳ năm 2021, đem về 3,22 tỷ USD.
Về giá xuất khẩu cà phê, tính chung 10 tháng đạt bình quân 2.283 USD/tấn, tăng 21,2% so với cùng kỳ năm 2021. Như vậy, có thể nói, trong năm nay, nước ta đã có mùa vụ cà phê được mùa, được giá.
Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA), niên vụ cà phê 2021-2022 đã kết thúc, nước ta xuất khẩu tổng khối lượng hơn 1,68 triệu tấn cà phê các loại, trị giá trên 3,9 tỷ USD. Đây là niên vụ cà phê đạt giá trị kim ngạch cao nhất từ trước đến nay.
"Trong niên vụ 2021-2022, Việt Nam chủ yếu vẫn xuất khẩu cà phê Robusta với 1,5 triệu tấn, kim ngạch 2,97 tỷ USD; còn cà phê nhân Arabica chỉ xuất khẩu 60 ngàn tấn, kim ngạch 260 triệu USD; cà phê nhân đã khử cafein 26.000 tấn, kim ngạch 76,9 triệu USD".
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam.
Trong niên vụ 2021-2022, doanh nghiệp FDI xuất khẩu cà phê nhân sống chiếm thị phần 33,2% trong tổng khối lượng xuất khẩu cà phê nhân và chiếm 31,7% về giá trị kim ngạch. Còn lại là xuất khẩu bởi các doanh nghiệp trong nước.
Về thị trưởng xuất khẩu Đức là thị trường số 1 với 216.000 tấn, Ý đứng thứ 2 với gần 139.000 tấn, Hoa kỳ thứ 3 với trên 126.000 tấn, Bỉ thứ đứng thứ 4 với 120.000 tấn, Nhật Bản thứ 5 với 111.300 tấn.
Về chủng loại sản phẩm, xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu vẫn là cà phê nhân. Mặc dù tỷ trọng cà phê chế biến sâu vẫn rất thấp, nhưng đã tăng so với các năm trước, khẳng định vị thế cà phê Việt Nam.
Xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan trên 92.000 tấn (chưa quy đổi ra cà phê nhân), với kim ngạch 598,2 triệu USD, chiếm 5,5% về lượng và chiếm 15,3% kim ngạch/ tổng các loại cà phê xuất khẩu trong niên vụ 2021-2022. Trong đó, doanh nghiệp FDI chiếm thị phần 59,9% trong tổng khối lượng xuất khẩu cà phê rang xay hòa tan và chiếm khoảng 66% về kim ngạch.
“Xuất khẩu các sản phẩm rang xay, hòa tan tăng nhanh, đây là một bước phát triển lớn và kết hợp với tiêu thụ nội địa cho thấy triển vọng ngành cà phê đang rất tốt và giảm phụ thuộc vào xuất khẩu cà phê nhân. Tăng xuất khẩu cà phê chế biến sâu thay vì xuất thô, qua đó định hình triển vọng mới cho ngành cà phê”, ông Nguyễn Nam Hải - Chủ tịch VICOFA nhận định.
Theo Tổ chức cà phê thế giới (ICO), xuất khẩu cà phê toàn cầu trong niên vụ 2021-2022 (tháng 10/2021 đến tháng 9/2022) đạt gần 129 triệu bao (60 kg/bao), giảm 0,4% so với niên vụ 2020-2021. Xuất khẩu cà phê arabica Brazil và arabica Colombia ghi nhận sự sụt giảm trong khi xuất khẩu cà phê robustas tăng 2,6% so với niên vụ trước lên mức 42,2 triệu bao.
Việt Nam và Ấn Độ là hai nước xuất khẩu đạt mức tăng trưởng nổi bật trong niên vụ 2021-2022. Trong đó, xuất khẩu cà phê nhân xanh của Việt Nam tăng 15,1% so với niên vụ trước lên 26,8 triệu bao, còn Ấn Độ tăng 26,1% lên 5 triệu bao. Ngược lại Burundi và Uganda là hai nước xuất khẩu giảm mạnh nhất, giảm 62,1% và 10% xuống còn 134.000 bao và 5,8 triệu bao.
"PHẤP PHỎNG" VỚI VỤ CÀ PHÊ MỚI
Theo VICOFA, niên vụ cà phê 2022-2023 đã bước vào mùa thu hoạch, tức là bắt đầu một năm kinh doanh mới giữa những biến động phức tạp trên thị trường toàn cầu. Chính phủ Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách “zero Covid”, lạm phát cao tại các thị trường xuất khẩu cà phê trọng điểm, logictics chưa thật sự ổn định đang gây khó khăn cho ngành cà phê.
Giá cà phê trên thế giới đang có dấu hiệu giảm từ đầu tháng 11 đến nay. Kết thúc phiên giao dịch ngày 10/11/2022, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London sụt giảm liên tiếp phiên thứ ba. Kỳ hạn giao ngay tháng 1 giảm thêm 12 USD, xuống 1.819 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 3 giảm thêm 8 USD, còn 1.808 USD/tấn.
Tương tự, giá cà phê Arabica trên sàn ICE US – New York, Kỳ hạn giao ngay tháng 12 giảm thêm 1,30 cent, xuống 165,30 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3 giảm thêm 1,80 cent, còn 162,35 cent/lb, các mức giảm đáng kể. Giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây nguyên giảm xuống dao động trong khung 40.300 – 40.700 đồng/kg.
Thời điểm này đang có nhiều thông tin bất lợi cho thị trường cà phê thế giới. Tính đến ngày 07/11, tồn kho cà phê Robusta được sàn London Chứng nhận và theo dõi cấp phát đã tăng thêm 350 tấn, tức tăng 0,39% so với một tuần trước đó, lên ở mức 90.580 tấn (tương đương 1.509.667 bao, bao 60 kg).
Trong khi đó, Rabobank vừa thông báo cho nhà đầu tư của mình về dự báo sản lượng cà phê Brasil niên vụ 2023/2024 có thể tăng 10% lên ở mức 68,25 triệu bao, do thời tiết vừa qua có nhiều mưa, rất thuận lợi để cây cà phê phát triển vụ mùa năm 2023.
Góp phần vào sự sụt giảm của giá cà phê còn do sự biến động trên chính trường Brasil khi Tổng thống Lula vừa đắc cử đang lựa chọn tìm kiếm các thành viên cho Chính phủ mới sẽ gây ra sự xáo trộn rất đáng kể. Đồng Reais giảm mạnh 2,41% xuống ở mức 1 USD = 5,1730 R$1, phản ánh sự bất ổn của các thị trường tài chính Brasil.
"Ước tính chỉ hai nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới là Brazil và Việt Nam sẽ chiếm khoảng 100 triệu bao, đáp ứng hơn 60% nhu cầu tiêu thụ cà phê toàn cầu trong niên vụ 2022-2023".
Theo dự báo của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO).
Trong khi đó, thị trường đang chờ đợi dữ liệu Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10, đo lường lạm phát của Hoa Kỳ. Tháng trước, chỉ số này đã tăng 0,4% sau khi tăng 0,1% trong tháng 8. Đây là con số sẽ được Cục Dự trữ Liên bang (Fed) phân tích để góp phần quyết định lãi suất USD sắp tới. Lo ngại lãi suất tăng cao đã khiến các Quỹ và đầu cơ cũng không vội vàng mua vào khi giá ICE New York hiện đang ở mức thấp 15 tháng.
Ông Nguyễn Quang Bình – Chuyên gia phân tích ngành hàng cà phê đưa ra nhận định: Giá cà phê Robusta chưa thể tăng trong thời gian tới, dù vị thế kinh doanh dư bán đã rất sâu bởi đồng USD.
Đầu phiên giao dịch ngày 10/11 (theo giờ Việt Nam), trên thị trường Hoa Kỳ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,80%, đạt mốc 110,43.
Đồng USD đã tăng so với hầu hết các loại tiền tệ chính vào phiên giao dịch vừa qua, sau khi kết quả của cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Hoa Kỳ được công bố. Kết quả cho thấy phe Dân chủ đã làm tiêu tan hy vọng của Đảng Cộng hòa về “một làn sóng đỏ” càn quét chính trường Hoa Kỳ, khiến các nhà đầu tư hướng sự tập trung sang dữ liệu lạm phát sắp tới.
Theo Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), nguồn cung cà phê niên vụ 2021 – 2022 thiếu hụt khoảng 167,2 triệu bao trong khi nhu cầu tiêu thụ đến 170,83 triệu bao. Niên vụ cà phê 2022 - 2023, cung cầu của thị trường sẽ cần bằng lại, thậm chí cung sẽ cao hơn cầu vì tại Brazil, nước xuất khẩu cà phê số 1 thế giới có một vụ mùa bội thu, và vụ cà phê mới của Việt Nam sẽ đạt trên dưới 30 triệu bao, tăng thêm trên 3 triệu bao so với niên vụ trước đó.
Nguồn: Vneconomy
Giá cà phê hôm nay 15/11 trong khoảng 39.600 - 40.100 đồng/kg. Giá cà phê lại có phiên đầu tuần suy giảm, tuy lực giảm không mạnh, nhưng trong phiên biến động liên tục, có lúc Robusta "tìm đáy" ở mốc 1.781 USD/tấn.
Tại huyện Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lộc (Lâm Đồng) giá cà phê hôm nay được thu mua với mức 39.600 đồng/kg.
Tại huyện Cư M'gar (Đắk Lắk) giá cà phê hôm nay ở mức 40.100 đồng/kg. Tại huyện Ea H'leo (Đắk Lắk), Buôn Hồ (Đắk Lắk) giá cà phê hôm nay được thu mua cùng mức 40.000 đồng/kg.
Tương tự tại tỉnh Đắk Nông, giá cà phê hôm nay thu mua ở mức 40.100 đồng/kg tại Gia Nghĩa và 40.000 đồng/kg ở Đắk R'lấp.
Tại tỉnh Gia Lai, giá cà phê hôm nay ở mức 40.100 đồng/kg (Chư Prông), ở Pleiku và La Grai cùng giá 40.000 đồng/kg.
Còn giá cà phê hôm nay tại tỉnh Kon Tum được thu mua với mức 40.100 đồng/kg. Thị trường cà phê trong nước hôm nay quay đầu giảm tại các địa phương so với cùng thời điểm sáng hôm qua.
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta tại London giao tháng 1/2023 giảm 12 USD/tấn ở mức 1.824 USD/tấn, giao tháng 3/2023 giảm 10 USD/tấn ở mức 1.815 USD/tấn. Trong khi đó trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 12/2022 giảm 0,9 cent/lb, ở mức 170,1 cent/lb, giao tháng 3/2023 giảm 1,2 cent/lb, ở mức 166,9 cent/lb.
Giá cà phê lại có phiên đầu tuần suy giảm liên tiếp trong thời gian gần đây. Tuần này lực giảm không mạnh, nhưng trong phiên biến động liên tục, có lúc Robusta "tìm đáy" ở mốc 1.781 USD/tấn.
Theo các chuyên gia, nguyên nhân đà giảm là do đồng USD hồi phục. Đầu phiên giao dịch ngày 15/11 (theo giờ Việt Nam), trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng nhẹ 0,60%, đạt mốc 106,90.
Đồng USD tăng nhẹ trở lại sau nhiều phiên giảm, do các nhà đầu tư đặt cược vào việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ giảm tốc độ tăng lãi suất trong thời gian tới.
Tính đến ngày 10/11/22, tồn kho đạt chuẩn trên sàn London đạt 90.170 tấn so với 3/11 là 91.520 tấn; sàn New York đạt 448.704 bao tức 26.922 tấn so với 382.695 bao hay 22.962 tấn. Thời điểm cuối vụ cũ, lớp tồn kho này của Robusta đếm được 93.700 tấn và Arabica 25.571 tấn. Hiện còn gần 22 nghìn tấn Arabica chờ kiểm định đạt chuẩn. Có thể thấy trước rằng tồn kho đạt chuẩn Arabica sẽ tăng nhanh lại trong những ngày tới. Theo các đại lý, một lượng lớn cà phê Arabica đổ vào các kho được ICE chấp thuận đã ảnh hưởng đến giá.
Nguồn: Thời báo Kinh tế đô thị
Giá tiêu hôm nay 15/11 trong khoảng 58.000 - 61.500 đồng/kg. Thị trường đi ngang những ngày qua và đang có xu hướng giảm khi đồng USD hồi phục lại.
Tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 59.500 đồng/kg.
Tại tỉnh Gia Lai, giá tiêu hôm nay ở mức 58.000 đồng/kg.
Trong khi đó tại Đồng Nai, giá tiêu hôm nay ở mức 58.500 đồng/kg.
Tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giá tiêu hôm nay ở mức 61.500 đồng/kg.
Còn tại tỉnh Bình Phước giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 60.500 đồng/kg.
Giá tiêu hôm nay đi ngang tại các vùng trồng trọng điểm so với cùng thời điểm hôm qua. Thị trường đi ngang những ngày qua và đang có xu hướng giảm khi đồng USD hồi phục lại. Sáng nay, đồng USD tăng nhẹ trở lại sau nhiều phiên giảm, do các nhà đầu tư đặt cược vào việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ giảm tốc độ tăng lãi suất trong thời gian tới. Cùng với đó, dòng tiền đầu cơ có dấu hiệu chạy khỏi hồ tiêu chuyển sang cà phê, khi vụ mùa trong nước dự báo tốt.
Ngày 15/11, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam công bố bản tin tháng 10/2022. Theo đó, 30 thị trường xuất khẩu hồ tiêu cùng 30 doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu trong 10 tháng qua đã "lộ diện".
Tính đến hết tháng 10/2022, Việt Nam xuất khẩu được 195.082 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 169.016, tiêu trắng đạt 26.066 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 850,2 triệu USD, tiêu đen đạt 696,9 triệu USD, tiêu trắng đạt 153,3 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái lượng xuất khẩu giảm 15,9% tương đương 36.948 tấn, tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu tăng 6,2%% tương đương 49,8 triệu USD.
Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, tiếp theo là Trung Quốc và UAE. Sự thay đổi là khoảng cách giữa các thị trường. 10 tháng năm nay Trung Quốc giảm nhập khẩu từ 37.283 tấn (2021) xuống 15.741, hụt gần 22.000 tấn so với năm ngoái (57,8%); trong khi đó mức giảm của thị trường Mỹ chỉ là 10%, UAE hơn 2%.
Đáng chú ý, thị trường HongKong (Trung Quốc), Singapore tăng sốc lần lượt là 2.201 tấn (938%) và 5.556 tấn (796%).
Nguồn: Thời Báo Kinh Tế Đô Thị
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "