PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Giá tiêu trong nước hôm nay

Giá tiêu hôm nay ngày 25/6/2024, tại khu vực Đông Nam Bộ đồng loạt giảm mạnh từ 6.000 - 9.000 đồng/kg ở tất cả các địa phương, giao dịch quanh mốc 145.000 đồng/kg, giá mua cao nhất tại tỉnh Đắk Lắk, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước là 146.000 đồng/kg.

Theo đó, giá tiêu Đắk Lắk được thu mua ở mức 146.000 đồng/kg. Giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) hiện ở mức 145.000 đồng/kg. Giá tiêu Đắk Nông hôm nay ghi nhận ở mức giá 145 .000 đồng/kg.

Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu hôm nay giảm mạnh từ 6.000 - 7.500 đồng/kg. Cụ thể, tại Bà Rịa – Vũng Tàu xuống mức 146.000 đồng/kg; tại Bình Phước, giá tiêu đạt mức 146.000 đồng/kg.

Giá tiêu nội địa hôm nay tiếp tục giảm mạnh giao dịch ở mức 145.000 đồng/kg. Như vậy, giá tiêu trong nước hôm nay giảm mạnh ở một số địa phương trọng điểm so với hôm qua. Tại tất cả các địa phương, giá tiêu đều ở ngưỡng 145.000 đồng/kg trở lên. Giá tiêu cao nhất được ghi nhận ở mốc 146.000 đồng/kg

Giá tiêu thế giới hôm nay

Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 7.090 USD/tấn, giảm 9.62%; giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 7.200 USD/tấn, giảm 4.17%; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA mức 7.500 USD/tấn.

Giá tiêu trắng Muntok 9.02 USD/tấn, giảm 7.36%; giá tiêu trắng Malaysia ASTA ở mức 8.800 USD/tấn.

Giá tiêu đen Việt Nam giao dịch ở 5.900 USD/tấn với loại 500 g/l, giảm 10.17%; loại 550 g/l mức 6.300 USD/tấn, giảm 9.52%; giá tiêu trắng ở mức 8.800 USD/tấn, giảm 1.23%. IPC giảm mạnh giá tiêu tại Indonesia và Brazil, giảm mạnh giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam.

Nhập khẩu hồ tiêu tại EU đang có dấu hiệu phục hồi trong những tháng đầu năm 2024 sau khi sụt giảm vào năm ngoái.

Theo số liệu từ Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat), EU đã nhập khẩu 18.474 tấn hồ tiêu từ thị trường ngoại khối trong 4 tháng đầu năm, trị giá 83,7 triệu EUR, tăng 22,9% về lượng và 27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023.

Tính riêng trong tháng 4, lượng hồ tiêu nhập khẩu vào EU đạt mức cao nhất kể từ đầu năm 2023 đến nay, với 5.440 tấn, tăng 22,7% so với tháng trước và tăng gần 40% so với cùng kỳ. Đây cũng là tháng thứ 4 liên tiếp nhập khẩu tiêu của EU tăng so với cùng kỳ năm trước.

4 tháng đầu năm, EU đã nhập khẩu tổng cộng 11.359 tấn hồ tiêu từ Việt Nam với trị giá hơn 48,5 triệu EUR, tăng 25,1% về lượng và 32,1% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Với khối lượng đạt 11.359 tấn, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 61,5% tổng nhập khẩu mặt hàng này của khu vực, Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hồ tiêu lớn nhất tại EU trong 4 tháng đầu năm.

Nhập khẩu hồ tiêu của EU từ các thị trường khác cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm như: Brazil đạt 3.443 tấn, tăng 25,3%; Indonesia đạt 1.384 tấn, tăng 32,2%; Ấn Độ đạt 952 tấn, tăng 9,9%.

Giá tiêu nhập khẩu bình quân của EU từ Việt Nam đạt 4.273 EUR/tấn, từ Brazil là 3.665 EUR/tấn, Indonesia 5.509 EUR/tấn, riêng Ấn Độ đạt 6.646 USD/tấn.

Gầy đây, yêu cầu và quy định của thị trường EU về rào cản phi thuế quan tiếp tục gia tăng và ngày càng khắt khe. Thị trường này cũng liên tục có những cảnh báo về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như gia tăng tần suất kiểm soát và siết chặt quy định MRLs đối với thực phẩm nói chung, trong đó bao gồm cả gia vị của Việt Nam.

Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, EU là thị trường tiềm năng cho xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này, ngành hồ tiêu phải đi theo hướng sản xuất bền vững, bởi ngày càng nhiều người tiêu dùng châu Âu yêu cầu các chứng nhận đảm bảo sản phẩm có tính bền vững.

Giá tiêu trong nước ngày 25/6­­/2024

Tỉnh, thành

ĐVT

Giá mua của thương lái

Tăng/giảm so với hôm qua

Chư Sê (Gia Lai)

đồng/kg

145.000

- 6.500

­­­Đắk Lắk

đồng/kg

146.000

- 9.000

Đắk Nông

đồng/kg

145.000

- 9.000

Bình Phước

đồng/kg

146.000

- 6.000

Bà Rịa -Vũng Tàu

đồng/kg

146.000

- 7.500

* Thông tin mang tính tham khảo. Giá có thể thay đổi tùy theo từng địa phương

Nguồn: Ngọc Ngân - Báo Công Thương

6 thị trường xuất khẩu tăng trưởng tỷ đô; xuất khẩu 6 tháng ước tăng 13,8%... là những tin nổi bật trong điểm tin xuất khẩu tuần từ 17/6/-23/6.

Theo Tổng cục Hải quan, hết tháng 5, có tăng trưởng tỷ đô gồm: Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, ASEAN, Hồng Kông (Trung Quốc), Hàn Quốc.

Cụ thể, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 44,44 tỷ USD, tăng tới 22,3% (tương ứng tăng 8,11 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 28,4% trong tổng kim ngạch cả nước. Với kết quả này, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta.

Xuất khẩu sang EU đạt 20,29 tỷ USD, tăng 14,1% (tương ứng tăng 2,52 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc đứng thứ 2 về quy mô kim ngạch xuất khẩu nhưng đứng thứ 3 về kim ngạch tăng thêm. Cụ thể, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 22,46 tỷ USD, tăng 10,8% (tương ứng tăng 2,19 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 14,97 tỷ USD, tăng 11,3% (tương ứng tăng 1,52 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu sang Hồng Kông (Trung Quốc) đạt 4,67 tỷ USD, tăng 38% (tương ứng tăng 1,29 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc đạt 10,21 tỷ USD, tăng 11,1% (tương ứng tăng 1,02 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 5, xuất khẩu hàng hóa cả nước đạt 156,28 tỷ USD, tăng 14,9% (tương ứng tăng 20,23 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu 6 tháng ước tăng 13,8%

Bộ Công Thương cho biết, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm ước đạt 188,97 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2023 giảm 11,3%).

Xuất khẩu nhóm chủ lực là công nghiệp chế biến, chế tạo ước đạt 159,92 tỷ USD, chiếm 84,63% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2023 (cùng kỳ giảm 12,6%). Nông sản tiếp tục là điểm sáng về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2023 (cùng kỳ giảm 2,3%), tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 18,21 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2024.

Riêng mặt hàng rau quả, Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho hay, theo số liệu ước tính của Tổng cục Hải quan, nửa đầu năm 2024, xuất khẩu rau quả đạt 3,4 tỷ USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sầu riêng, thanh long, chuối và nhãn là những loại trái cây đóng góp lớn cho tăng trưởng xuất khẩu rau quả.

Cũng theo Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm, ước tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá ước đạt 369,59 tỷ USD, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục thặng dư với xuất siêu ước đạt 8,4 tỷ USD.

Xuất khẩu hạt điều của Việt Nam tăng 29,5%

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tháng 5/2024, Việt Nam xuất khẩu hạt điều đạt 67,71 nghìn tấn, trị giá 370,34 triệu USD, tăng 1,0% về lượng và tăng 3,3% về trị giá so với tháng 4/2024, tăng 18,1% về lượng và tăng 9,0% về trị giá so với tháng 5/2023. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, Việt Nam xuất khẩu hạt điều đạt 285,1 nghìn tấn, trị giá 1,53 tỷ USD, tăng 29,5% về lượng và tăng 18,5% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Tháng 5/2024, giá xuất khẩu bình quân hạt điều của Việt Nam đạt mức 5.469 USD/ tấn, tăng 2,2% so với tháng 4/2024, nhưng giảm 7,7% so với tháng 5/2023. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, giá xuất khẩu bình quân hạt điều của Việt Nam đạt mức 5.387 USD/tấn, giảm 8,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tháng 5/2024, Việt Nam tăng xuất khẩu hạt điều sang hầu hết các thị trường, ngoại trừ Anh và Canada. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, Việt Nam tăng xuất khẩu hạt điều sang hầu hết các thị trường, ngoại trừ Ả rập Xê út. Đáng chú ý, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang nhiều thị trường lớn ghi nhận mức tăng cao như: Nga, Trung Quốc, Đức…

Trong số 10 thị trường xuất khẩu hạt điều lớn nhất của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2024, Hoa Kỳ đứng vị trí hàng đầu với lượng xuất khẩu đạt 75,072 nghìn tấn và trị giá trên 399 triệu USD. Vị trí thứ hai là Trung Quốc với 53,334 nghìn tấn và hơn 289 triệu USD; Hà Lan đứng vị trí thứ ba với 22,088 nghìn tấn với hơn 122 triệu USD; Đức đứng vị trí thứ tư với hơn 9 nghìn tấn và kim ngạch đạt hơn 48,6 triệu USD; Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống Nhất đứng vị trí thứ 5 với 8,3 nghìn tấn và trị giá hơn 46,3 triệu USD.

Các vị trí kế tiếp gồm Anh, Canada, Australia, Ả rập Xê út, Nga. Riêng với thị trường Anh, theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam kim ngạch xuất khẩu hạt điều sang thị trường này đạt hơn 8,1 triệu tấn với trị giá hơn 40,1 triệu USD, tăng 13% về lượng và tăng 5,8% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Đây cũng là thị trường đứng thứ 6 trong số các thị trường xuất khẩu hạt điều của Việt Nam.

Xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn thu về hơn 562 triệu USD

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam trong tháng 5 đạt 118.438 tấn với trị giá hơn 51 triệu USD, giảm 35,4% về lượng và giảm 35,8% về trị giá so với tháng trước đó.

Lũy kế trong 5 tháng đầu năm, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn thu về hơn 562 triệu USD với sản lượng hơn 1,2 triệu tấn, giảm 8,4% về sản lượng nhưng tăng 6,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Xét về thị trường, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ sắn lớn nhất của Việt Nam. Kể từ đầu năm đến nay, hàng xóm láng giềng đã thu mua hơn 1,13 triệu tấn sắn và các sản phẩm sắn của Việt Nam, kim ngạch đạt hơn 509 triệu USD, giảm 7% về lượng nhưng tăng 9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 447 USD/tấn, tăng mạnh 17%.

Đứng thứ 2 trong số các thị trường xuất khẩu sắn Việt Nam là Hàn Quốc với 27.296 tấn trong 5 tháng đầu năm, kim ngạch đạt hơn 8,3 triệu USD, giảm mạnh 58% về lượng và giảm 65% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu cũng ghi nhận giảm 17%, đạt 304 USD/tấn.

Đài Loan (Trung Quốc) là thị trường đứng thứ 3 về sản lượng sắn xuất khẩu với 24.820 tấn, kim ngạch đạt hơn 13,7 triệu USD, tăng 5,2% về lượng và tăng 18% về trị giá. Giá xuất khẩu đạt 553 USD/tấn, tăng 13%.

Ngọc Ngân -Báo Công Thương

Chiếm 61,5% thị phần, Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hồ tiêu lớn nhất cho thị trường EU.

Theo số liệu từ Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat), trong 4 tháng đầu năm, EU đã nhập khẩu 18.474 tấn hồ tiêu từ thị trường ngoại khối trị giá 83,7 triệu EUR, tăng 22,9% về lượng và 27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023.

Tính riêng trong tháng 4, lượng hồ tiêu nhập khẩu vào EU đạt mức cao nhất kể từ đầu năm 2023 đến nay, với 5.440 tấn, tăng 22,7% so với tháng trước và tăng gần 40% so với cùng kỳ. Đây cũng là tháng thứ 4 liên tiếp nhập khẩu tiêu của EU tăng so với cùng kỳ năm trước.

4 tháng đầu năm, EU đã nhập khẩu tổng cộng 11.359 tấn hồ tiêu từ Việt Nam với trị giá hơn 48,5 triệu EUR, tăng 25,1% về lượng và 32,1% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Với khối lượng đạt 11.359 tấn, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 61,5% tổng nhập khẩu mặt hàng này của khu vực, Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hồ tiêu lớn nhất tại EU trong 4 tháng đầu năm.

Nhập khẩu hồ tiêu của EU từ các thị trường khác cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm như: Brazil đạt 3.443 tấn, tăng 25,3%; Indonesia đạt 1.384 tấn, tăng 32,2%; Ấn Độ đạt 952 tấn, tăng 9,9%.

Giá tiêu nhập khẩu bình quân của EU từ Việt Nam đạt 4.273 EUR/tấn, từ Brazil là 3.665 EUR/tấn, Indonesia 5.509 EUR/tấn, riêng Ấn Độ đạt 6.646 USD/tấn.

Ngoài mức giá cạnh tranh, doanh nghiệp xuất khẩu của tiêu của Việt Nam đang có lợi thế hơn một số nước xuất khẩu như Ấn Độ, Malaysia, Indonesia,… nhờ Hiệp định EVFTA, giúp giảm thuế nhập khẩu hồ tiêu xay hoặc nghiền sang EU giảm từ 4% còn 0%.

Theo Trung tâm Xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI), châu Âu không sản xuất hồ tiêu nên tiêu thụ của khu vực chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu.

Cơ quan này cũng cho biết, có đến 95% lượng hồ tiêu nhập khẩu vào EU được tiêu thụ tại các nước trong khu vực và chỉ 5% trong số đó được tái xuất sang các nước ngoài châu Âu.

Tiêu thụ tiêu đen tại châu Âu được cho là sẽ tăng trưởng ổn định trong thời gian tới, với mức tăng dự kiến vào khoảng 0,5% năm 2023 và 1,8% trong năm 2024.

CBI dự báo nhập khẩu hồ tiêu của các nước châu Âu sẽ tăng trưởng 1-2% mỗi năm. Thị trường châu Âu mang lại lợi thế về giá so với các thị trường châu Á đối với tiêu đen chất lượng cao và được sản xuất bền vững.

Gầy đây, yêu cầu và quy định của thị trường EU về rào cản phi thuế quan tiếp tục gia tăng và ngày càng khắt khe. Thị trường này cũng liên tục có những cảnh báo về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như gia tăng tần suất kiểm soát và siết chặt quy định MRLs đối với thực phẩm nói chung, trong đó bao gồm cả gia vị của Việt Nam.

Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, EU là thị trường tiềm năng cho xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này, ngành hồ tiêu phải đi theo hướng sản xuất bền vững, bởi ngày càng nhiều người tiêu dùng châu Âu yêu cầu các chứng nhận đảm bảo sản phẩm có tính bền vững.

Nguồn: Báo Công Thương

Giá tiêu trong nước hôm nay

Giá tiêu hôm nay ngày 19/6/2024, tại khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ biến động, tăng, giảm trái chiều ở một số địa phương, giao dịch quanh mốc 159.200 đồng/kg, giá mua cao nhất tại tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk là 162.000 đồng/kg.

Theo đó, giá tiêu Đắk Lắk được thu mua ở mức 162.000 đồng/kg tăng 2.000 đồng/kg. Giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) hiện ở mức 158.000 đồng/kg ổn định giữ nguyên so với ngày hôm qua. Giá tiêu Đắk Nông hôm nay ghi nhận ghi nhận ở mức giá 162.000 đồng/kg, tăng 1.000 đồng/kg so với ngày hôm qua.

Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu hôm nay giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg. Cụ thể, tại Bà Rịa – Vũng Tàu xuống mức 158.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg; tại Bình Phước, giá tiêu đạt mức 156.000 đồng/kg, giảm 2.000 đồng/kg.

Sau phiên hôm qua giảm mạnh, giá tiêu nội địa hôm nay biến động tăng, giảm trái chiều ở mức 159.200 đồng/kg. Như vậy, giá tiêu trong nước hôm nay tăng, giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg ở hầu hết các địa phương trọng điểm so với hôm qua 1.000 - 2.000 đồng/kg. Tại tất cả các địa phương, giá tiêu đều ở ngưỡng 159.000 đồng/kg trở lên. Giá tiêu cao nhất được ghi nhận ở mốc 162.000 đồng/kg.

Giá tiêu thế giới hôm nay

Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 6.418 USD/tấn; giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 7.900 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA giữ mức 4.900 USD/tấn.

Giá tiêu trắng Muntok 8.377 USD/tấn; giá tiêu trắng Malaysia ASTA vẫn ở 7.300 USD/tấn.

Giá tiêu đen Việt Nam giao dịch ở mốc 7.800 USD/tấn (tăng 6,84%); loại 550 g/l mức 8.000 USD/tấn (tăng 2,56%); giá tiêu trắng mức 12.000 USD/tấn.

Theo ông Phan Minh Thông - Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sinh, khi giá tiêu đạt mức cao kỷ lục, các nhà đầu cơ bắt đầu đẩy mạnh bán ra khiến nông sản này quay đầu giảm. Tuy nhiên, ông Thông vẫn nhận định giá tiêu khó có thể giảm sâu do nguồn cung năm nay sụt giảm.

Ông Lê Việt Anh - Tổng thư ký Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) đánh giá, việc xác định nguyên nhân chính xác của sự biến động giá hồ tiêu là rất khó. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng giá hồ tiêu tăng nóng, giảm mạnh có thể xảy ra khi lượng lớn nhà đầu tư mua để đầu cơ.

"Nông dân thường găm hàng khi giá tăng, nhưng doanh nghiệp lại không mua vào, dẫn đến giá giảm khi đạt đỉnh", ông Việt Anh đánh giá.

Dự báo, giá tiêu trong nước sẽ khó xuống dưới 100.000 đ/kg, nhất là khi mùa thu hoạch đã kết thúc từ tháng 4 và diện tích trồng ngày càng bị thu hẹp để nhường chỗ cho các khu công nghiệp. Ông Việt Anh dự đoán, sắp tới giá hồ tiêu nội địa sẽ tăng trở lại không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.

Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế thông tin thêm, thị trường tuần trước cho thấy phản ứng khá tích cực, khi không có quốc gia sản xuất nào ghi nhận giảm. Cụ thể, tại Nam Á, giá tiêu giao dịch trong nước và quốc tế của Ấn Độ tiếp tục tăng từ tháng trước. Còn giá tiêu nội địa Sri Lanka tiếp tục tăng trong 5 tuần qua.

Ở Đông Nam Á, giá tiêu nội địa và xuất khẩu của Indonesia ghi nhận tăng từ tuần trước do hàng tồn còn ít trên thị trường.

Chỉ có giá tiêu nội địa Malaysia ghi nhận tăng trong tuần này. Trong khi, giá tiêu xuất khẩu nước này tiếp tục ổn định và không thay đổi.

Giá tiêu giao dịch nội địa và quốc tế của Việt Nam tiếp tục tăng kể từ đầu tháng 5. Sự gia tăng này do hàng tồn còn ít tại địa phương cũng như lượng thu hoạch giảm tại Việt Nam, theo Namagro.

Trong khi đó, giá tiêu đen Brazil và tiêu trắng Trung Quốc tiếp tục ghi nhận tăng từ tuần trước. Tăng giá hồ tiêu tại Brazil được cho là do vụ mất mùa tại Espirito Santos, Brazil. Còn giá tiêu đen Campuchia tiếp tục ổn định và không thay đổi.

Các quốc gia như Brazil và Indonesia được dự báo có vụ mùa kém năng suất, sắp tới bắt đầu vào khoảng tháng 8. Điều này giúp duy trì lợi thế của hồ tiêu Việt Nam trên thị trường quốc tế, bởi nguồn cung đang phụ thuộc vào các công ty xuất khẩu trong nước.

Giá tiêu trong nước ngày 19/6/2024

Tỉnh, thành

ĐVT

Giá mua của thương lái

Tăng/giảm so với hôm qua

Chư Sê (Gia Lai)

đồng/kg

158.000

- 0

­­­Đắk Lắk

đồng/kg

162.000

+2.000

Đắk Nông

đồng/kg

162.000

+1.000

Bình Phước

đồng/kg

156.000

- 2.000

Bà Rịa -Vũng Tàu

đồng/kg

158.000

- 1.000

* Thông tin mang tính tham khảo. Giá có thể thay đổi tùy theo từng địa phương

Nguồn: Báo Công Thương

Page 21 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]