PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Thị trường nông sản tuần qua

Wednesday, 15 September 2021 08:42

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong tuần qua, giá lúa gạo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng nhẹ.

Cụ thể, giá lúa thường tại ruộng cao nhất là 4.900 đồng/kg, giá bình quân là 4.820 đồng/kg, tăng 10 đồng/kg. Giá lúa thường tại kho cao nhất 7.150 đồng/kg, trung bình là 6.050 đồng/kg, tăng 13 đồng/kg.

Bên cạnh đó, giá các loại gạo có sự tăng rất nhẹ. Gạo 5% tấm có giá cao nhất 9.150 đồng/kg, giá bình quân 8.986 đồng/kg, tăng 86 đồng/kg. Gạo 15% tấm có giá cao nhất 8.950 đồng/kg, giá bình quân 8.752 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg. Gạo 25% tấm có giá cao nhất 8.750 đồng/kg, giá bình quân 8.508 đồng/kg, tăng 83 đồng/kg.

Số liệu từ Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cũng cho thấy, giá lúa khô ở một số địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có sự biến động không đồng nhất. Tại thành phố Cần Thơ, giá lúa IR50404 ở mức 6.400 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; Jasmine ổn định ở mức 6.700 đồng/kg

Tại Hậu Giang, giá lúa OM5451 là 6.300 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg; nhưng IR50404 và Đài thơm 8 lại tăng từ 100-300 đồng/kg, ở mức 5.900 đồng/kg và 6.700 đồng/kg.

Tại Tiền Giang, giá lúa lại có sự giảm mạnh, như IR50404 là 6.200 đồng/kg, giảm 700 đồng/kg; Jasmine là 7.200 đồng/kg, giảm 400 đồng/kg.

Tại An Giang, giá lúa gạo nhìn chung ổn định. Giá nếp tươi từ 4.200 - 4.300 đồng/kg. Lúa IR50404 từ 4.700 - 4.900 đồng/kg; lúa OM9582 từ 4.800 - 4.900 đồng/kg; Đài thơm 8 từ 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM6976 từ 5.000 - 5.200 đồng/kg; lúa Nàng hoa từ 6.000 - 6.100 đồng/kg.

Về giá gạo, gạo thường từ 10.500 - 11.500 đồng/kg, gạo Jasmine từ 13.000 - 14.000 đồng/kg, gạo Sóc Thái 18.000 đồng/kg, gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 17.000 đồng/kg.

Vụ Hè Thu 2021, nông dân Tiền Giang xuống giống 74.700 ha; trong đó có 24.700 ha trà lúa Hè Thu sớm và khoảng 50.000 ha lúa Hè Thu chính vụ. Đến nay, toàn tỉnh đã thu hoạch trên 46.500 ha, sản lượng đạt trên 215.000 tấn lúa hàng hóa.

Trong tháng 9, Tiền Giang khẩn trương thu hoạch nhanh gọn toàn bộ diện tích lúa Hè Thu còn lại, tập trung ở các huyện, thị vùng kiểm soát lũ phía Tây của tỉnh. Các huyện, thị trong tỉnh đều tạo điều kiện thuận lợi như cấp giấy đi đường cho nông dân, người điều khiển các phương tiện cơ giới và nhân công, thương lái qua chốt kiểm soát phòng chống dịch COVID-19 để ra đồng phục vụ thu hoạch, vận chuyển, tiêu thụ lúa hàng hóa, không để ảnh hưởng hoặc ùn ứ nông sản nhưng vẫn đảm bảo quy định chống dịch.

Hiện một số địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long đã bước vào thu hoạch lúa Thu Đông sớm và được thương lái đặt cọc nhiều.

Cùng chung xu hướng với giá lúa gạo trong nước, trên thị trường gạo châu Á, giá gạo Thái Lan, Ấn Độ ít biến động. Giá gạo đồ, 5% tấm xuất khẩu của Ấn Độ không thay đổi và đứng ở mức từ 358-363 USD/tấn trong tuần này.

Còn giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Thái Lan trong tuần này cũng ít thay đổi so với tuần trước khi đứng ở mức 280-402 USD/tấn. Giới thương nhân tại Bangkok cho hay, nhu cầu không hề giảm và chi phí vận chuyển cao có thể khiến người mua hướng tới gạo Việt Nam.

Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng trong tuần này từ mức thấp nhất trong hơn một năm, nhờ nhu cầu tăng cao sau khi Chính phủ tăng cường dự trữ và các nhà buôn ngừng nhập khẩu gạo từ Ấn Độ với dự kiến chi phí vận chuyển cao sẽ giảm bớt trong thời gian tới.

Phiên cuối tuần này, giá gạo 5% tấm của Việt Nam tăng từ 385 USD/tấn trong hai tuần trước lên 400 USD/tấn. Thị trường đã đóng cửa vào tuần trước để nghỉ lễ Quốc khánh.

Một thương nhân ở TP Hồ Chí Minh cho biết: “Vụ Hè Thu sắp kết thúc, trong khi nhu cầu trong nước bắt đầu tăng cao. Chính phủ cũng tăng cường mua gạo để tích dự trữ quốc gia sau khi cung cấp gạo cho người dân bị ảnh hưởng bởi lệnh phong tỏa để phòng chống dịch COVID-19”.

Về thị trường nông sản Mỹ, giá các mặt hàng nông sản kỳ hạn trên thị trường Mỹ biến động trái chiều trong phiên giao dịch 10/9, với giá ngô và đậu tương tăng còn giá lúa mỳ giảm.

Chốt phiên này, giá ngô giao tháng 12/2021 tăng 7,5 xu Mỹ (1,47%) lên 5,175 USD/bushel. Giá đậu tương giao tháng 11/2021 tăng 16 xu Mỹ (1,26%) lên 12,865 USD/bushel. Còn giá lúa mỳ giao tháng 12/2021 giảm 3,75 xu Mỹ (0,54%) xuống 6,885 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

Công ty nghiên cứu AgResource có trụ sở tại Chicago (Mỹ) cho biết hai báo cáo mà Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đưa ra ngày 10/9 gồm: Ước tính Vụ mùa tháng Chín và Ước tính cung và cầu nông nghiệp thế giới (WASDE) không cho thấy biến động bất ngờ nào.

Giới đầu tư chuyển sự tập trung sang báo cáo dự trữ tháng Chín, dự kiến sẽ đưa ra vào cuối tháng này, và bắt đầu báo cáo dữ liệu về sản lượng thu hoạch thực tế hàng ngày từ tuần tới. AgResource cho rằng nhu cầu xuất khẩu của Mỹ sẽ đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới giá cả nông sản.

USDA ước tính dự trữ ngô của Mỹ cuối niên vụ 2021-2022 dự báo sẽ tăng 166 triệu bushel, lên 1.408 triệu bushel. Ngoài ra, USDA dự báo dự trữ đậu tương cuối niên vụ 2021-2022 sẽ ở mức 185 triệu bushel.  Tuy nhiên, báo cáo WASDE hạ dự báo dự trữ lúa mỳ cuối niên vụ 2021-2022 của Mỹ giảm 12 triệu bushel, xuống còn 615 triệu bushel.

Về thị trường cà phê thế giới, gá cà phê dao động trong sự do dự thận trọng của giới đầu tư khi có tin đã xuất hiện những cơn mưa đầu mùa ở Brazil.

Về thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, trên sàn ICE Europe - London, giá cà phê Robusta giao tháng 11/2021 giảm thêm 2 USD, xuống 2.048 USD/tấn. Còn giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 1/2022 không thay đổi, vẫn ở mức 2.038 USD/tấn và các kỳ hạn giao xa tăng nhẹ. Khối lượng giao dịch rất thấp dưới mức trung bình.

Trong khi đó, giá cà phê Arabica trên sàn giao dịch ICE US – New York đảo chiều tăng. Giá cà phê Arabica giao tháng 12/2021 tăng 0,60 xu Mỹ, lên 188,05 xu Mỹ/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2022 tăng 0,55 xu Mỹ, lên 190,75 xu Mỹ/lb (1b = 0,4535). Khối lượng giao dịch ở mức trung bình.

Tại thị trường trong nước, giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây nguyên không thay đổi, vẫn dao dộng trong khung từ 39.900-40.400 đồng/kg. Giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2, 5% đen vỡ, đứng ở 1.918 USD/tấn, FOB - HCM, với mức trừ lùi 110-120 USD/tấn theo giá kỳ hạn tháng 1/2022 tại London.

Giá cà phê Arabica thế giới trở lại đà tăng khi có tin mưa rào rải rác ở vùng Nam Minas Gerais không đủ lớn để giúp cây cà phê ra hoa vụ mới. Đặc biệt sau vài cơn mưa nhẹ đầu mùa Xuân, dự báo thời tiết trong tuần tới vẫn còn khô nóng. Nhà nông rất cần mưa liên tục ngay từ đầu mới giúp cây cà phê cải thiện sức khỏe do đã bị khô hạn kéo dài.

Trái lại, giá cà phê Robusta có dấu hiệu "lình xình", các nhà đầu tư vẫn còn tỏ ra thận trọng khi giá đã tăng lên ở mức cao của bốn năm.

Bích Hồng - Hà Chung (TTXVN)

Trong khi Anh liên tục tăng nhập từ nhiều quốc gia khác, cà phê từ Việt Nam sang quốc gia này nửa đầu năm giảm gần 50% so với cùng kỳ 2020.

Theo số liệu thống kê từ Trung tâm Thương mại Quốc tế, nhập khẩu cà phê của Anh trong nửa đầu năm 2021 đạt 100,3 nghìn tấn, trị giá 424,62 triệu USD, giảm 13,8% về lượng và giảm 10,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.

Đáng chú ý, trong khi Anh tăng nhập khẩu cà phê từ hầu hết thị trường cung cấp chính, cà phê từ Việt Nam và Honduras giảm mạnh.

Cụ thể, nhập khẩu cà phê của Anh từ Việt Nam đạt 16,4 nghìn tấn, trị giá 29 triệu USD, giảm 48,4% về lượng và giảm 49,3% về trị giá so với cùng kỳ. Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Anh giảm từ 27,32% xuống 16,35%.

Nguyên nhân là làn sóng Covid-19 lần thứ 4 đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của cà phê của Việt Nam. Trong khi đó, ngành cà phê Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng cũng như xu hướng tiêu dùng của người dân Anh. Hiện xuất khẩu cà phê của Việt Nam dưới dạng thô hoặc chế biến sơ, trong khi cơ cấu tiêu dùng cà phê ở Anh chủ yếu là cà phê hòa tan, chiếm 41% thị phần, cao hơn rất nhiều so với bình quân 17% thị phần tại châu Âu.

Anh là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai châu Âu, có chính sách thương mại tự do và có nhu cầu nhập khẩu nông phẩm lớn. Hiệp định thương mại tự do UKVFTA được Chính phủ hai nước ký kết cuối năm 2020 đã giúp nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam có lợi thế cạnh tranh trên thị trường Anh so với các sản phẩm cùng loại có xuất xứ từ các nước chưa có FTA với Anh.

Năm 2020, Anh nhập khẩu cà phê từ thị trường Việt Nam trị giá gần 1 tỷ USD. Tuy nhiên, thị trường Anh có tính cạnh tranh rất cao với nguồn hàng nhập khẩu từ nhiều nước. Để xuất khẩu cà phê sang Anh ổn định, các chuyên gia khuyến nghị, ngành cà phê Việt Nam cần đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường này. Bên cạnh đó, sản phẩm phải phù hợp với thị hiếu tiêu dùng Anh.

Hồng Châu (vnexpress)

(KTSG) – Năm 2021, khi tình hình dịch Covid-19 trở nên căng thẳng hơn, Chính phủ và Bộ Tài chính tiếp tục dựa trên những quy định của năm 2020 để đề xuất hàng loạt chính sách ưu đãi thuế nhằm mục đích hỗ trợ và vực dậy các doanh nghiệp.

Năm ngoái, Chính phủ đã ban hành một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đáng chú ý, như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), gia hạn nộp thuế cho hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp. Nhưng với tình hình dịch Covid-19 quá phức tạp và số lượng doanh nghiệp rút khỏi thị trường trong sáu tháng đầu năm nay đã tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái, năm nay, Bộ Tài chính tiếp tục soạn thảo thêm một số đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp.

 – những chính sách đáng chú ý

Nghị quyết 42/NQ-CP được ban hành ngày 9-4-2020 nhằm hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và Nghị quyết 154/NQ-CP ngày 19-10-2020 sửa đổi Nghị quyết 42/NQ-CP về các khoản hỗ trợ vay không có tài sản đảm bảo, với lãi suất vay 0% tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) còn được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; các hộ, cá thể kinh doanh thỏa điều kiện sẽ được hỗ trợ 1.000.000 đồng/tháng.

Thêm nữa, Nghị định 41/2020/NĐ-CP ngày 8-4-2020 gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất, thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) cho doanh nghiệp. Về thuế TNDN, doanh nghiệp nào có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỉ đồng sẽ được giảm 30% thuế TNDN phải nộp (theo Nghị quyết 116/2020/QH14 của Quốc hội và Nghị định 114/2020/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn Nghị quyết 116(1)).

Bộ Tài chính cũng đã ban hành 19 thông tư để miễn giảm phí, lệ phí một số lĩnh vực như hoạt động của ngân hàng, xây dựng, chứng khoán… do Covid-19(2). Các giải pháp hỗ trợ về thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất đã giúp doanh nghiệp hạn chế được việc cắt giảm lao động, đồng nghĩa với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Việc này cũng giúp cho Việt Nam là một trong số ít nền kinh tế có mức tăng trưởng dương trong năm 2020 (2,91%)(3).

Năm 2021, tình hình dịch Covid-19 trở nên căng thẳng hơn, Chính phủ và Bộ Tài chính tiếp tục dựa trên những quy định của năm 2020 để đề xuất hàng loạt chính sách ưu đãi thuế nhằm mục đích hỗ trợ và vực dậy các doanh nghiệp.

Những chính sách ưu đãi thuế được áp dụng đến nay

Tiếp nối Nghị định 41, Nghị định 52/2021 ngày 19-4-2021 của Chính phủ gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN và tiền thuê đất trong năm 2021. Theo đó, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (trong một số ngành, nghề nhất định) cũng thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định 52. Ngoài ra, Thông tư 47/2021/TT-BTC ngày 24-6-2021 quy định mức thu mới cho 30 khoản phí, lệ phí trong một số lĩnh vực hoạt động như ngân hàng, xây dựng, chứng khoán. Tuy nhiên, các mức phí, lệ phí này giảm không đáng kể, nên nhiều doanh nghiệp đủ điều kiện áp dụng nhưng không ghi nhận tác động tích cực đến tình hình tài chính của doanh nghiệp lúc này.

Gần đây, ngày 1-7-2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ NSDLĐ và NLĐ gặp khó khăn do dịch Covid-19. Tuy nhiên, Nghị quyết 68 chỉ có một số điểm cải thiện so với Nghị quyết 42. Ví dụ, theo Nghị quyết 42, nếu muốn được hưởng chính sách về NSDLĐ bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 dẫn đến phải giảm từ 50% số NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm cơ quan có thẩm quyền công bố dịch (kể cả NLĐ ngừng việc, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thỏa thuận nghỉ không hưởng lương) thì NSDLĐ và NLĐ được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất.

Còn theo Nghị quyết 68, chỉ cần NSDLĐ giảm từ 15% số NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm tháng 4-2021 thì sẽ được áp dụng chính sách này. Hay như trước đây, hộ kinh doanh cá thể thuộc trường hợp được áp dụng Nghị quyết 42 sẽ được hỗ trợ 1.000.000 đồng/hộ/tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch nhưng không quá ba tháng, thì theo Nghị quyết 68, sẽ được nhận một lần 3.000.000 đồng/hộ.

Các đề xuất hiện tại của Bộ Tài chính và tình hình thực tế

Giảm 50% thuế đối với tất cả hộ, cá nhân kinh doanh. Bộ Tài chính đang soạn thảo chính sách giảm 50% thuế phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong quí 3 và quí 4 năm 2021 đối với hộ, cá nhân kinh doanh trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, mọi địa bàn.

Tuy nhiên, đa số các hộ kinh doanh đều đã phải đóng cửa tại thời điểm này, nếu còn hoạt động thì cũng chỉ tạm bợ, cố gắng cầm cự. Vì vậy, có ý kiến cho rằng, để hỗ trợ tối đa cho các hộ kinh doanh nhỏ lẻ còn hoạt động, thay vì giảm 50% thuế, Chính phủ nên xem xét miễn thuế hoàn toàn.

Ưu đãi thuế TNDN. Bộ Tài chính đang dự thảo đề xuất giảm 30% thuế TNDN năm 2021 cũng như miễn tiền phạt chậm nộp phát sinh trong hai năm 2020-2021 đối với doanh nghiệp, tổ chức phát sinh lỗ liên tục trong ba năm từ 2018-2020.

Đề xuất này được cho là sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nguồn tài chính để xoay sở, dự trữ nguồn vốn, tái sản xuất cũng như trả lương cho NLĐ. Tuy nhiên, với thực tế hơn 70.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong sáu tháng đầu năm 2021 và không ít doanh nghiệp đang lỗ nặng, phương án này có vẻ chưa hỗ trợ những nhu cầu cứu trợ sát sườn của doanh nghiệp.

Ưu đãi thuế GTGT. Đối với thuế GTGT – một loại thuế gián thu, Bộ Tài chính cũng đề xuất Chính phủ giảm 30% đối với doanh nghiêp, tổ chức hoạt động trong một số nhóm lĩnh vực dịch vụ nhằm giúp giảm một phần giá bán hàng hóa, dịch vụ, thu hút người mua và đẩy lượng sản phẩm tiêu thụ lên. Có thể nói, chính sách này có thể tác động tích cực cho nguồn tài chính trung và dài hạn, nhưng lại chỉ áp dụng cho một số lĩnh vực, dịch vụ nhất định.

Ưu đãi thuế TNCN. Việc gia hạn thời hạn nộp thuế TNCN theo Nghị định 52/2021 giúp các cá nhân, hộ kinh doanh có thể hoãn nộp thuế TNCN đáng lẽ phải nộp trong năm 2021. Nhưng suy cho cùng, điều này không giải quyết được vấn đề khó khăn cấp thời cho các hộ, các cá nhân kinh doanh.

Bởi lẽ hiện đa số doanh nghiệp đều giảm thời giờ làm việc, dẫn đến giảm lương, đồng nghĩa với thuế TNCN giảm tương ứng; một số doanh nghiệp đã tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động để NLĐ nhận lương ngừng việc theo quy định, nên số thuế TNCN phải thu không đáng kể.

Thêm nữa, đa số doanh nghiệp đều trả lương trước thuế (gross), việc thu thuế TNCN trên cơ sở doanh nghiệp thu hộ cho Nhà nước, nếu Nhà nước chưa thu thì doanh nghiệp chưa khấu trừ thuế của NLĐ nên chỉ có NLĐ được lợi ích trực tiếp còn doanh nghiệp thì không, hay chỉ có lợi ích gián tiếp. Vì thế, quy định này cũng chỉ mang tính chất trì hoãn, không có nhiều tác động tích cực trong lúc này.

Một số kiến nghị từ thực tế

Như đã trình bày, các đề xuất Bộ Tài chính góp phần vào những chính sách mang tính trung và dài hạn, tính cấp bách không cao, chưa giải quyết được những khó khăn trước mắt của hầu hết các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp. Do vậy, cần gấp rút có các chính sách giúp thêm nguồn tiền để những chủ thể này duy trì sản xuất, kinh doanh.

Thứ nhất, thay vì gia hạn thời gian nộp thuế hay giảm 30% thuế TNDN, Chính phủ nên miễn tiền thuế TNDN trong năm 2021 cho những doanh nghiệp có doanh thu năm 2020 dưới 200 tỉ đồng. Đối với thuế GTGT, nên giảm 50% hoặc miễn thuế năm 2021 và áp dụng cho tất cả các loại hình sản xuất, kinh doanh.

Đối với thuế TNCN thì nên nâng mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế thu nhập từ 11 triệu đồng/tháng lên 20 triệu đồng/tháng để NLĐ có thêm tiền xoay xở cuộc sống hằng ngày, an tâm tiếp tục tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ hai, Chính phủ và Ngân hàng nhà nước phối hợp ban hành chính sách cho các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp vay với lãi suất 0% trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là 3, 6 hoặc 12 tháng, nhắm hỗ trợ họ duy trì sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, Nghị quyết 68/NQ-CP đặt ra điều kiện để NSDLĐ và NLĐ được tạm dừng đóng vào Quỹ hưu trí và tử tuất 06 tháng kể từ thời điểm nộp hồ sơ là số lượng NLĐ tham gia bảo hiểm xã hội phải giảm từ 15% trở lên so với thời điểm tháng 4-2021, nhưng với tình hình dịch bệnh hiện nay, quy định trên cần được sửa đổi theo hướng áp dụng cho tất cả đối tượng là NSDLĐ bởi khó khăn về kinh tế là tình hình chung của tất cả NSDLĐ.

Nói tóm lại, ngoài các chính sách ưu đãi có thể dùng cho trung và dài hạn giúp các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp duy trì một số nguồn vốn để tái đầu tư trong và sau đại dịch, Chính phủ và các bộ ngành cần bổ sung các chính sách thuế nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách của các chủ thể kinh doanh hiện nay.

Hơn thế, các chính sách để áp dụng sau khi chấm dứt đại dịch cũng rất cần thiết vì khi bắt đầu khôi phục là lại một lần thay đổi các mức thuế, phí, lệ phí so với các những gì đang được áp dụng hiện nay. Để tránh gây “sốc” cho các chủ thể kinh doanh, việc lập phương án sau đại dịch phải theo một kế hoạch, lộ trình cụ thể, tránh áp dụng đột ngột, vì người kinh doanh cần thời gian để phục hồi các hoạt động của họ.

Page 95 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]