Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Nhiều nhà máy tại Bình Phước tăng cường thu mua nguyên liệu khi cung hạn chế khiến giá điều tăng vọt lên 280.000 đồng một kg.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, giá điều trong nước biến động mạnh do các nhà máy tăng cường thu mua nguyên liệu dịp Tết Nguyên đán. Điều nhân cỡ vừa tại Bình Phước tăng 30.000 đồng so với tháng trước, lên mức 280.000 đồng một kg. Cỡ trung từ 300-320 hạt một pound (454 gram) tăng khoảng 20.000 đồng, lên mức 260.000 đồng một kg.
Giá hạt điều khô mua xô cũng tăng mạnh, dao động ở mức 42.000 đồng một kg tại Đồng Nai. Dự báo khi mùa Tết kết thúc, giá điều vẫn tiếp tục xu hướng đi lên do nguồn cung hạn chế vào thời điểm giáp hạt.
Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu hạt điều trong tháng đầu năm 2018 cũng tăng xấp xỉ 73% về lượng và 94% về giá trị so với cùng kỳ năm trước, lần lượt đạt gần 31.000 tấn và 317 triệu USD. Bình quân mỗi tấn hạt điều xuất khẩu có giá 10.254 USD, tăng 1,3% so với tháng cuối năm.
Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu hạt điều lớn nhất của Việt Nam với khối lượng đạt 9.238 tấn, tiếp đến là Hà Lan và Trung Quốc. Hầu hết những thị trường này được dự báo sẽ duy trì mức tăng trưởng ổn định do kinh tế đang phục hồi, nhu cầu tiêu thụ nhờ đó được cải thiện.
Xuất khẩu hạt điều năm 2017 đạt khoảng 3,52 tỷ USD, Việt Nam tiếp tục giữ vị trí số một thế giới về chế biến và xuất khẩu điều. Tuy nhiên, vì chưa chủ động được nguồn nguyên liệu tại chỗ, trong khi giá nhập khẩu quá cao và chất lượng kém nên năm nay ngành điều sẽ tập trung giảm lượng tăng chất, chế biến sâu và phát triển thị trường nội địa. Điều này kéo theo mục tiêu sản lượng chế biến xuất khẩu giảm từ 350.000 tấn điều nhân các loại xuống còn 300.000 tấn năm 2018, tương ứng kim ngạch giảm còn 3 tỷ USD.
Phương Đông (vnexpress)
Kể cũng lạ, ở một nước xuất khẩu cà phê nhất nhì thế giới, nông dân và con cháu họ chỉ biết sản xuất ra hột cà phê cho thị trường, không cần và không thể biết sản phẩm mình đi tới đâu, nằm ở chuỗi cung ứng nào, nhưng hàng năm vẫn thu về cho đất nước một lượng kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỉ đô la Mỹ.
Dám nói rằng chỉ có nhờ ơn trời mới ra được thế!
Hột cà phê đi phương nào?
Như bà mẹ đẻ đứa con, mới thả nó ra đường thì đã lạc mất: đó là thân phận của hột cà phê Việt Nam hiện nay. Tiếng là hàng năm cả nước xuất khẩu bình quân chừng một triệu rưỡi tấn cà phê, hàng bán ra được rải khắp bốn phương tám hướng, nhưng toàn không tên không tuổi. Qua Tây qua Tàu, xuất hiện tên nước khác người khác, nào cà phê Colombia, Indonesia, thậm chí Malaysia dù nước này không sản xuất cà phê. Trong khi hột cà phê Việt Nam – mang chính tên khai sinh -thì chẳng mấy khi thấy tăm hơi đâu.
Nước sản xuất thì thôi đành, nhưng tên doanh nghiệp của các nước nhập khẩu không sản xuất hột cà phê nào cũng quá loạn, thương hiệu lớn bé nhan nhản. Buồn là chẳng mấy ai biết rằng cứ trong năm hột cà phê họ uống, có một hột là của Việt Nam! Một ly cà phê trên thế giới uống năm hớp, trong đó có một hớp là cà phê “made in Vietnam”.
Người uống không biết chuyện ấy, thôi cũng được! Người sản xuất cũng chẳng biết tuốt! Vậy mà nông dân quê tôi ngày ngày vẫn phải chăm chú làm ăn, chẳng ai biết phải làm sao để minh định mình là “chính chủ”, hoàn toàn im hơi, một tiếng cũng không, nửa chữ cũng chưa thấy.
Trong nước cũng có một hiệp hội cà phê, chủ yếu chỉ phục vụ cho các nhà kinh doanh và xuất khẩu. Nông dân mang tiếng có mặt trong hội gì chăng nữa, cũng phải thông qua sự đại diện “toàn quyền” của giới trung gian.
Tiếng là sẽ có chương trình giúp họ tài chính trong kế hoạch tái canh 120.000 héc ta cà phê già cỗi, nhưng suy cho cùng mục đích ấy: nhằm tăng sản lượng để phục vụ cho các nhà kinh doanh và xuất khẩu. Cứ ngẫm mà xem!
Khi đứa con đẻ ra bị thất lạc, nếu may mắn nằm vào tay người bảo lãnh tốt: được phước. Nhưng tâm lý của kẻ sinh thành đâu có yên: ngày ngày ngại số phận con mình phiêu lưu như giao trứng cho ác.
Bao lâu nông dân chưa được chia sẻ thông tin và tham gia vào các chuỗi cung ứng, con cháu họ chưa được quan tâm vào trường lớp đào tạo nghề cà phê để hiểu biết và phục vụ cho chuỗi cung ứng sản phẩm họ làm ra, thì khó nói rằng họ đã được đối xử công bằng trong một nền thương mại công bằng.
Hứng đủ rủi ro
Tại nhiều nước sản xuất cà phê khác, nhờ có tổ chức và liên kết tốt từ sản xuất đến tiêu thụ, người nông dân chỉ việc chăm sóc, thu hái, đưa vào trung tâm chế biến của hợp tác xã hay nhà máy từng khu vực, công việc mua bán xuất khẩu có bộ phận chuyên nghiệp lo. Một khi gặp rủi ro thị trường, họ đều được thông đạt. Còn ở Việt Nam, do sản xuất nhỏ lẻ manh mún, hầu hết sản phẩm thu hoạch đều trao cho các doanh nghiệp lớn nhỏ, dù đó là thương lái hay các công ty xuất khẩu.
Hai điều làm đau lòng nhất cho nông dân cà phê nước ta là một khi hột cà phê vào tay thương lái hay nhà xuất khẩu, “đứa con mình đẻ ra” dẫu rất đẹp, thường bị trộn chung với các loại chất lượng bát nháo, nó trở thành đứa trẻ xấu xí. Đàng khác, do nhiều doanh nghiệp cà phê kinh doanh theo cách đầu cơ, mua bán kiểu cầu may theo giá kỳ hạn trên thế giới, tăng thì trữ, giảm thì bán khống theo sàn kỳ hạn, một loại kinh doanh như sàn chứng khoán, đã làm hột cà phê ngụp lặn với vô vàn khó khăn và rủi ro về giá. Điệp khúc “được mùa mất giá, được giá mất mùa” không mấy ai giải thích giùm nên tâm trạng người trồng cà phê cứ khi lên mây khi xuống vực chẳng biết đâu mà lường.
Có khi biết hột cà phê chắc chắn do mình làm nên, đó là con mình, nhưng tung ra chợ đời, lại không biết ai là người tiêu thụ, ai khen chê ngon dở, làm sao đưa đúng địa chỉ cho người cần và thích sử dụng. Cái thương tâm ấy trở thành cái vô duyên của hột cà phê Việt Nam.
Nỗ lực tái tổ chức: chưa đến đâu!
Hiện nay, hàng năm xuất khẩu cà phê Việt Nam luôn đứng hàng đầu thế giới trên thị trường robusta và thứ hai chỉ sau Brazil trong toàn bộ các nước xuất khẩu cà phê về khối lượng gồm hai loại arabica và robusta.
Từ trước đến nay tiếng là xuất khẩu, nhưng các doanh nghiệp thường đưa hàng đi bán xa cạ, bỏ phí rất nhiều tài nguyên, công sức và tiền bạc. Thậm chí nhiều năm giá thị trường xuống, cả nông dân và doanh nghiệp trong nước lao đao thua lỗ, ảnh hưởng lớn đến sinh kế của nhiều gia đình sống nhờ vào hột cà phê từ mấy đời nay.
Một số cố gắng về chính sách được thử đi thử lại nhiều lần, như Chính phủ kêu gọi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, khi thì liên kết “ba nhà” lúc thì “bốn nhà”, nói chung với thiện ý làm sao cho sản phẩm nông nghiệp và đặc biệt là hột cà phê có thị trường và giá cả ổn định để đảm bảo cuộc sống của nhà vườn. Thực tế chưa như mong muốn.
Tưởng nhiều lúc quy tụ được nhiều “nhà” gồm nhà nông, nhà xuất khẩu, nhà băng, nhà khoa học, và kể cả Nhà nước, sẽ giúp giá cà phê bền vững. Nhưng không, rủi ro vẫn hoàn rủi ro.
Phong trào xây dựng hợp tác xã mới đang ráo riết hoạt động để làm sao liên kết sản xuất giữa nông dân với nhau và gom lực khi có sản phẩm, một hình thức của “cánh đồng mẫu lớn” như ở ngành sản xuất lúa gạo, nhưng các thửa ruộng sản xuất lúa ở đồng bằng còn rộng hơn nhiều so với các mảnh vườn nhỏ ở Tây nguyên, vùng sản xuất cà phê trọng điểm của cả nước, với bình quân mỗi nông hộ chừng nửa héc ta.
Các thử nghiệm mô hình sản xuất-lưu thông và quyết sách kinh tế cũng như an sinh xã hội cho ngành cà phê lại không dựa vào yếu tố này, chưa tìm cách biến sở đoản thành sở trường, hệt như ở đồng bằng sông Cửu Long, cứ chăm chăm sản xuất lúa dù vùng này càng lúc càng bị ngập mặn, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế lúa gạo.
Đánh thức “công chúa ngủ trong rừng”
Cách sản xuất, thu hái, chế biến và mua bán cà phê theo kiểu xa cạ hiện nay chỉ làm lợi cho phía người mua hàng. Rõ ràng người đi buôn chỉ mong được mua hàng giá rẻ, khối lượng giao dịch càng lớn họ càng mừng vì ta giúp họ tăng doanh số. Nói chung, người mua, đặc biệt là thương nhân trung gian, sẽ không khuyến khích chúng ta làm tốt khâu chất lượng.

Cách mua dễ sẽ tạo cho người bán không để ý đến chất lượng sản phẩm trong hột cà phê vì tất cả các cấp loại hột từ đen, nâu, sâu, vỡ... đều được chấp nhận, dĩ nhiên với giá cực rẻ và được mua lâu dài. Nên bây giờ mới hiểu được rằng mỗi khi có một hội nghị về sản xuất cà phê bền vững, nhà nông và doanh nghiệp thường đưa vấn đề giá lên hàng đầu.
Nhưng quyết định sự tồn vong của nhà buôn xưa nay là mua thấp bán cao. Yêu cầu các nhà nhập khẩu và thương lái trong nước mua giá cao làm sao mà được cơ chứ?
Đã manh nha một “con đường cà phê đặc sản” được những người trẻ đam mê cà phê tạo dựng dần và có nhiều kết quả khả quan.Không nên hiểu cà phê đặc sản như là những sản vật độc đáo xuất phát từ một vùng miền riêng biệt.
Nói cà phê ở một vùng nào đó ngon nhưng với cách bán xa cạ như hiện nay sẽ xóa nhòa đi tính đặc trưng của chính hột cà phê ấy. Như vậy chỉ giúp cho người biết khai thác kinh tế cà phê làm giàu, còn nông dân trực tiếp trồng cà phê chỉ là người bị lợi dụng. Nhất là khi ngành thực phẩm đang bị khống chế bởi các hóa chất hóa phẩm, có thể tạo màu, mùi và hương vị sẵn sàng đánh lừa ngũ giác con người một cách dễ dàng.
Hột cà phê ngon được trồng trên vườn cà phê tốt, nếu như không được thu hái đàng hoàng và nghiêm túc tức lựa từng trái chín vừa đủ, nếu không có cách chế biến phù hợp, không được rang trong điều kiện nhiệt độ và thời gian tối ưu... sẽ không có cà phê đặc sản.
Trong một chuyến du khảo cuối năm, tôi đã tận mắt chứng kiến cách thu hái, chế biến hột cà phê robusta, vốn trong tâm trí tôi, chỉ cho rằng đấy là loại cà phê rẻ tiền, chỉ dùng để phối trộn và chế biến cà phê hòa tan, một thức uống công nghiệp tiện dùng và vừa túi tiền của người lao động. Nhưng rất bất ngờ, khi qua tay những bạn trẻ, một số người nghiên cứu cách chế biến, vị cà phê robusta thường là đắng chát, hương chẳng có gì đặc sắc, đã trở thành những ly cà phê thơm ngát và ngọt ngào.
“Nếu ơ hờ trong thu hái, không quan tâm đến chế biến và rang xay cho đúng để trích xuất các chất tinh túy của hột cà phê, như đánh thức nàng công chúa ngủ trong rừng, thì khó ai biết hột cà phê robusta Việt Nam thơm ngon đến vậy”, Sam Choi, anh bạn trẻ người Hàn Quốc sống tại Thái Lan, người đam mê sản xuất và chế biến cà phê đặc sản robusta nói như thế trong chuyến khảo nghiệm.
Hiện nay, mỗi ki-lô-gam cà phê bán theo giá chợ (của thế giới) chừng 1,7 đô la Mỹ, nhưng ở các nước Thái Lan và Lào có người đang bán 5 đô la!
Điều kiện sản xuất nhỏ lẻ của mảnh vườn cà phê Việt Nam hết sức phù hợp với phát triển cà phê đặc sản.
Các bạn trẻ nhiều nơi đã có những sản phẩm cà phê đặc sản, tuy chưa nhiều và phổ biến, một thương hiệu L ‘Amant (Người tình) ở thành phố Pleiku, một The Married Beans (Cà phê Kết giao) tại Đà Lạt... đã liên kết bền vững với từng vườn cà phê tại chỗ để cho ra những ly cà phê tuyệt vời.
Hy vọng đấy sẽ là những gạch nối cho “con đường cà phê đặc sản” của Việt Nam xuyên suốt chiều dài Tây nguyên, kéo dài cho đến trung tâm tiêu thụ cà phê đặc sản tại TPHCM. Đó chính là hướng để đánh thức tiềm năng hột cà phê và nền kinh tế dựa trên hột cà phê.
Hơn bao giờ hết, nhất là trong khi giá cà phê thế giới đang bị các quỹ đầu cơ tài chính khuynh đảo, việc ủng hộ mối liên kết chặt chẽ giữa các vườn cây và các nhà chế biến cà phê đặc sản, không chỉ nâng cao giá trị hột cà phê Việt Nam mà tạo được một nền sản xuất bền vững tự tay mình và cho chính mình.
Nên chăng, đã đến lúc ngành cà phê nên xem lại quan điểm, đào tạo nghề cho con cái nông dân cà phê để họ đi theo đường chuyên nghiệp và sống lâu dài với hột cà phê như cha ông họ đã từng sống nhờ hột cà phê trên trăm năm nay.
Có lẽ, về lâu dài, các tiệm cà phê “hóa chất” phải biến mất vì nên đặt mối liên kết với nông dân sản xuất cà phê như một điều kiện bắt buộc để mở cửa hàng bán loại thức uống hấp dẫn này.
Nguyễn Quang Bình (thesaigontimes)
Giá hạt tiêu xuất khẩu sang tất cả các thị trường 11 tháng đầu năm 2017 đều sụt giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xuất trung bình chỉ đạt 5.258 USD/tấn, giảm gần35% so với cùng kỳ.
Giá xuất khẩu giảm mạnh
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, mặc dù lượng hạt tiêu xuất khẩu của nước ta trong 11 thángđầu năm 2017 tăng 20,3% so với cùng kỳ, đạt 202.873 tấn, nhưng giá trị thu về lại giảm tới 21,5%, chỉ đạt 1,07 tỷ USD, do giá hạt tiêu xuất khẩu giảm mạnh 34,7% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt mức 5.258 USD/tấn.
Riêng trong tháng 11/2017 giá xuất khẩu cũng tiếp tục giảm 1,6% so với tháng 10, và giảm mạnh 38,5% so với cùng tháng năm 2016, đạt trung bình 4.540 USD/tấn.
Giá hạt tiêu xuất khẩu sang thị trường Mỹ - thị trường hàng đầu về tiêu thụ hạt tiêu của Việt Nam trong 11 thángđầu năm nay cũng sụt giảm tới 33,7% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 5.736 USD/tấn. Lượng hạt tiêu xuất khẩu sang Mỹ cũng giảm 3,5% và kim ngạch giảm 36% so với cùng kỳ năm 2016, đạt 36.500 tấn, tương đương 209,36 triệu USD, chiếm 18% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 19,6% trong tổng kim ngạch.
Giá hạt tiêu xuất khẩu sang Ấn Độ - thị trường lớn thứ 2 cũng giảm mạnh 35,7% so với cùng kỳ, đạt 4.929 USD/tấn; do giá xuất khẩu rẻ nên mặc dù lượng xuất sang Ấn Độ tăng trên 42%, nhưng trị giá thu về lại giảm 8,6%, đạt 14.692 tấn, trị giá 72,41 triệu USD, chiếm 7,2% trong tổng lượng và chiếm 6,8% trong tổng kim ngạch.
Hạt tiêu xuất khẩu sang Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất - thị trường lớn thứ 3, giá cũng giảm mạnh 35,3% so với cùng kỳ, đạt 4.770 USD/tấn; lượng xuất khẩu tăng nhẹ 2,9% so với cùng kỳ, nhưng trị giá lại giảm mạnh 33,5%, đạt 12.686 tấn, tương đương 60,52 triệu USD.
Hạt tiêu của Việt Nam xuất khẩu sang các nước EU nói chung chiếm 12% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và chiếm 14% trong tổng kim ngạch, đạt 24.458 tấn, trị giá 149,75 triệu USD, giảm 4,3% về lượng và giảm 34,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á nói chung chỉ chiếm 5% trong tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu của cả nước và cũng giảm mạnh 22% về lượng và giảm 50% về kim ngạch so với cùng kỳ.
Năm nay giá hạt tiêu xuất khẩu sang tất cả các thị trường đều sụt giảm so với năm ngoái; trong đó các thị trường xuất được với mức giá cao gồm có: Nhật Bản 7.970 USD/tấn, giảm 25,5% so với cùng kỳ; Bỉ 7.479 USD/tấn, giảm 19%; Thái Lan 6.512 USD/tấn, giảm 33%; Hà Lan 6.370 USD/tấn, giảm 30%; Anh 6.631 USD/tấn, giảm 28%.
Ngược lại, các thị trường xuất khẩu hạt tiêu ở mức giá rẻ như: Philipines 4.084 USD/tấn, giảm 47%; Thổ Nhĩ Kỳ 4.390 USD/tấn, giảm 33% và Ai Cập 4.438 USD/tấn, giảm 38%;
Thị trường đáng chú ý nhất trong 11 tháng đầu năm nay là thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, do giá xuất khẩu ở mức gần thấp nhất thị trường, nên lượng xuất khẩu tăng rất mạnh, tăng 92% về lượng và tăng 28% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái
Giá hạt tiêu trong nước giảm mạnh
Trong tháng 12/2017 giá hạt tiêu tiếp tục giảm so với tháng 11. Tại Đắc Lắc, Đắc Nông, Bà Rịa Vũng Tàu và Đồng Nai giá chỉ còn 71.000 – 72.000 đồng/kg, giảm 5.000 đồng/kg so với tháng 10/2017 và giảm mạnh 50% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá hạt tiêu tại Gia Lai giảm mạnh nhất 6.000 đồng/kg, xuống mức 70.000 đồng/kg. Nguyên nhân giá giảm, do lượng hạt tiêu tồn kho từ vụ trước còn khá nhiều.
Năm 2018 không mấy lạc quan
Giá hạt tiêu trong nước vào cuối năm 2017 giảm gần 50% so với cuối năm 2016, do diện tích hạt tiêu trên cả nước vượt quy hoạch, dẫn đến cung vượt cầu trong khi nhu cầu thị trường hạn hẹp.
Xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam gặp khó, do phải cạnh tranh mạnh với hạt tiêu Brazil. Năm nay, sản lượng tiêu Brazil tăng mạnh, ước tăng thêm 20.000-30.000 tấn so với năm >2016, giá hạt tiêu Brazil rẻ hơn hạt tiêu Việt Nam, giá chỉ khoảng 80.000 đ/kg; hơn nữa phương thức giao hàng nhanh, hạt tiêu không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Dự báo, sản lượng hạt tiêu của Việt Nam năm 2018 sẽ tiếp tục tăng mạnh và có khả năng vượt mức 200.000 tấnđã đạt được trong năm 2017. Bên cạnh đó, sản lượng hạt tiêu của các nước Brazil, Campuchia, Ấn Độ… cũng tăng, khiến cho nguồn cung trên thế giới tăng cao.
Vì thế, giá tiêu trong năm 2018 được dự báo vẫn ở mức thấp cho tới đến khi nào diện tích, sản lượng tiêu Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung giảm xuống, thì giá tiêu mới có thể tăng.
Thùy Linh (Trí Thức Trẻ)
Đầu năm 2017, các chuyên gia ngành điều dự báo năm nay xuất khẩu (XK) nhân điều vẫn thuận lợi và sẽ lần đầu tiên vượt mốc 3 tỷ USD và ước đạt khoảng 3,3 tỷ USD (tính cả các sản phẩm phụ từ điều). Tuy nhiên, đến hết tháng 11/2017, đã có thể khẳng định riêng về XK nhân điều sẽ vượt mốc 3,5 tỷ USD.
Thông tin từ Tổng cục Hải quan cho hay, trong 11 tháng đầu năm 2017, XK điều đã đạt 3,214 tỷ USD, tăng 1,1% về lượng và 23,7% về giá trị so cùng kỳ 2016. Trên cơ sở đó, ông Đỗ Hoàng Giang, PCT Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) khẳng định XK điều cả năm 2017 chắc chắn sẽ lần đầu tiên vượt mốc 3,5 tỷ USD. Ông Tạ Quang Huyên, GĐ Cty Hoàng Sơn 1 (Bình Phước), cũng cho rằng XK điều 2017 sẽ đạt giá trị trên 3,5 tỷ USD.
Những lời khẳng định nói trên hoàn toàn có cơ sở, bởi trong tháng 12, chỉ cần XK được gần 300 triệu USD, ngành điều sẽ vượt mốc 3,5 tỷ USD. Mà nhìn lại XK điều trong năm 2017, từ tháng 5 đến tháng 10, đều đạt từ hơn 300 triệu USD/tháng trở lên. Với những dữ liệu như trên, XK điều trong tháng 12 hoàn toàn có thể đạt mức trên dưới 300 triệu USD, qua đó giúp cho XK điều cả năm chắc chắn vượt mốc 3,5 tỷ USD, cao hơn tới vài trăm triệu USD so với mục tiêu đề ra hồi đầu năm là 3,3 tỷ USD.
Vì sao giá trị XK điều tăng trưởng mạnh trong năm 2017? Nguyên nhân chính là cán cân cung - cầu. Ông Tạ Quang Huyên cho hay, do nhu cầu của thị trường thế giới càng ngày càng tăng cao, nên tình hình tiêu thụ nhân điều trong năm 2017 rất tốt. Trong khi nhu cầu tiêu thụ nhân điều vẫn tăng mạnh thì nguồn cung điều nguyên liệu lại sụt giảm mạnh ở nhiều nước sản xuất lớn, trong đó có Việt Nam.
Điều đó đã làm cho giá nhân điều tăng cao trên toàn cầu, giá điều XK của Việt Nam cũng ở mức cao kỷ lục. 11 tháng đầu năm 2017, nhân điều XK của Việt Nam có giá bình quân là 9.926 USD/tấn, cao hơn 22,3% so với 11 tháng năm 2016. XK sang Hồng Kông đạt mức giá cao nhất, bình quân là 11.553 USD/tấn.
Điều đáng chú ý là các DN điều Việt Nam, ngay sau khi nhận thấy niên vụ điều 2016/2017 sẽ bị giảm mạnh về năng suất, sản lượng do ảnh hưởng thời tiết bất lợi, đã chủ động đẩy mạnh NK điều thô từ châu Phi. 11 tháng đầu năm 2017, các DN đã NK 1,21 triệu tấn điều thô, tăng tới 27,4% so với cùng kỳ 2016. Cộng với hơn 250.000 tấn điều thô thu hoạch trong nước và nguồn điều nhập về từ Campuchia và Lào, các DN điều Việt Nam đã chủ động tạo được nguồn nguyên liệu dồi dào phục vụ cho chế biến XK.
Ông Tạ Quang Huyên cho hay, từ nguồn điều thô NK, qua chế biến của các DN Việt Nam, giá trị thặng dư tăng thêm được khoảng 20%. Như vậy, với 1,21 triệu tấn điều thô đã NK về trong 11 tháng, giá trị thặng dư tăng thêm được sau khi qua chế biến tương đương với hơn 240 ngàn tấn điều thô, gần bằng sản lượng điều của Việt Nam vụ 2016/2017.
Về thị trường, XK nhân điều sang đa số các thị trường đều tăng về giá trị trong 11 tháng đầu năm 2017. Tăng mạnh nhất là Bỉ với mức tăng tới 195,27%. Trong 10 thị trường lớn nhất, tăng trưởng mạnh nhất tại thị trường Nga với mức tăng 56,35%, tiếp đó là Hà Lan với 44,69%, Thái Lan 41,42%...
Về XK điều trong thời gian tới, theo ông Tạ Quang Huyên, sẽ còn tiếp tục thuận lợi và giữ được giá cao ít nhất là trong nửa đầu năm 2018. Bởi trong 6 tháng đầu năm là thời điểm giáp hạt, nguồn cung nhân điều nhỏ hơn cầu một chút, nên giá sẽ không hạ và có thể còn tăng lên. Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Vinacas, dự báo XK điều trong năm 2018 có thể đạt từ 3,5 - 3,7 tỷ USD.
Nhu cầu sử dụng hạt điều trên toàn cầu được dự báo tiếp tục tăng sẽ là điều kiện thuận lợi cho XK điều Việt Nam trong những năm tới. Theo đánh giá của Vinacas, nhu cầu tiêu thụ hạt điều toàn cầu đang tăng khoảng 10%/năm. Còn theo Hội đồng Hạt và Quả khô quốc tế (INC), hạt điều đang chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường hạt khô toàn cầu có giá trị khoảng 30 tỷ USD/năm. Dự kiến đến 2021, hạt điều sẽ chiếm thị phần 28,91%, đứng thứ 2 là hạt óc chó.
|
Việt Nam trở thành trung tâm chế biến điều lớn nhất thế giới Theo ông Tạ Quang Huyên, trung tâm chế biến điều của thế giới đã được dịch chuyển từ Ấn Độ sang Việt Nam từ cách đây 11 năm. Nhưng hồi đấy, chúng ta chỉ mới là trung tâm xuất khẩu nhân điều lớn nhất của thế giới. 2 năm trở lại đây, Việt Nam đã trở thành trung tâm chế biến và XNK điều lớn nhất thế giới. Thế giới có khoảng 3,4 triệu tấn điều nguyên liệu mỗi năm, thì Việt Nam đưa vào chế biến tới 1,6 - 1,7 triệu tấn. Các DN điều Việt Nam đã ý thức được giá trị của chất lượng, của ATTP, của thương hiệu và uy tín trong thương mại. Điều đó sẽ quyết định đến vấn đề phát triển của DN nói riêng và ngành điều nói chung. Bên cạnh đó, người Việt Nam có ưu điểm là cần cù, chịu khó và sáng tạo. Đó là điều mà phần lớn các quốc gia trồng điều không có được. Vì vậy, trong khi ngành chế biến điều ở Việt Nam đã liên tục phát triển mạnh trong nhiều năm qua và hiện đứng đầu thế giới về sản lượng chế biến, và máy móc, công nghệ, thì nhiều nước đã thất bại khi đầu tư vào lĩnh vực này. Như ở Campuchia, họ đã học Việt Nam, đầu tư xây dựng nhà máy chế biến điều từ 15 năm trước. Nhưng đến nay, hầu hết các nhà máy chế biến điều ở Campuchia đã phải đóng cửa. Nhiều nước châu Phi còn chế biến điều trước cả Việt Nam. Gần đây, một số nước châu Phi đã nhập cả máy móc, công nghệ chế biến điều từ Việt Nam, gây ra mối lo ngại cho ngành điều Việt Nam về việc sẽ bị mất nguồn điều nguyên liệu và bị cạnh tranh trên thị trường nhân điều thế giới. Thế nhưng, dù đã nhập máy móc, công nghệ của Việt Nam, nhưng các nhà máy chế biến điều ở châu Phi vẫn không đạt được hiệu quả sản xuất. Mà yếu tố then chốt chính là con người. Nhờ yếu tố con người mà năng suất điều Việt Nam hiện đang đứng đầu thế giới. Năng suất chế biến điều tính trên giá trị 1 ngày công lao động cũng đang đứng đầu thế giới. |
|
Tiềm ẩn rủi ro do phụ thuộc quá lớn nguồn điều thô nhập khẩu Tuy giá trị XK điều trong năm 2017 đạt kỷ lục mới trên 3,5 tỷ USD, giá nhân điều XK cũng đạt mức bình quân kỷ lục là khoảng 10 USD/kg, nhưng lợi nhuận của các DN lại không được như kỳ vọng. Nguyên nhân là do giá XK tuy tăng cao, nhưng không theo kịp đà tăng của giá điều nguyên liệu. 11 tháng đầu năm 2017, trong khi lượng điều nguyên liệu NK tăng 27,4% thì giá trị điều NK lại tăng tới 60,9%. Tính bình quân, mỗi tấn điều thô NK có giá 1.970 USD, cao hơn 409 USD/tấn so với giá bình quân của điều thô NK trong 11 tháng năm 2016. Tính ra, trong 11 tháng đầu năm 2017, giá điều thô NK đã tăng tới 26,2% so với cùng kỳ 2016, cao hơn mức tăng của giá nhân điều XK (tăng 22,3%). Do giá điều thô NK tăng cao, nên năm 2017 cũng là lần đầu tiên giá trị NK điều thô đã vượt mốc 2 tỷ USD (đến hết tháng 11 là gần 2,4 tỷ USD). Giá điều thô NK tăng cao có nguyên nhân không nhỏ từ việc mất mùa điều ở Việt Nam và Campuchia. Như vậy, có thể thấy dù điều thô NK đã góp phần tạo ra giá trị thặng dư không nhỏ cho ngành điều, đóng góp quan trọng vào kỷ lục XK hơn 3,5 tỷ USD, nhưng việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn điều thô NK vẫn đang tiềm ẩn những rủi ro và hạn chế không nhỏ tới sự phát triển của ngành chế biến điều Việt Nam. |
|
Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Vinacas: Lợi nhuận chưa tương xứng Việt Nam vẫn chủ yếu XK nhân điều, với giá bình quân trong năm nay khoảng 10 USD/kg. Trong khi đó, các sản phẩm giá trị gia tăng từ nhân điều khi bán ở các siêu thị tại các nước, giá tới 30 USD/kg. Như vậy, trong chuỗi giá trị của hạt điều, các DN Việt Nam chỉ chiếm khoảng 30%. Phần lớn còn lại thuộc về các nhà rang, chiên quốc tế, các nhà phân phối. Như vậy, nguồn lực, tiền vốn, công sức… mà các DN Việt Nam đã bỏ ra để chế biến điều là rất lớn mà lợi nhuận thu được lại chưa tương xứng. Để khắc phục tình trạng này, đang ngày càng có thêm nhiều DN đầu tư chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng từ hạt điều như điều rang muối, điều rang củi, điều mật ong, điều wasabi... Đáng chú ý là một số DN có vốn nước ngoài đến từ Mỹ, Singapore… cũng đã đầu tư nhà máy chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng từ hạt điều ở Việt Nam. |
Theo Sơn Trang (Nông nghiệp Việt Nam)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "