Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Trong tuần qua, giá lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định.
Lãnh đạo các địa phương trong vùng đang nỗ lực tìm kiếm các phương án tháo gỡ những khó khăn để giúp nông dân thu hoạch lúa Hè Thu thuận lợi trong điều kiện dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp.
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho biết, giá lúa ở các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định. Tại Sóc Trăng, giá lúa tương đương so với tuần trước, như: Đài thơm 8 là 8.400 đồng/kg; ST24 là 8.150 đồng/kg; RVT là 7.450 đồng/kg, OM 4900 là 8.000 đồng/kg… Còn tại Trà Vinh, lúa IR 50404 có giá 6.900 đồng/kg, OM4900 là 7.000 đồng/kg…
Riêng tại thành phố Cần Thơ, giá lúa tăng nhẹ. Cụ thể, lúa jamine khô ở mức 6.700 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg; OM 4218 là 6.600 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg.
Còn tại An Giang, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, giá lúa tươi trên địa bàn địa phương cũng ổn định như: IR50404 từ 5.100 - 5.400 đồng/kg; lúa Nhật từ 7.500 - 7.600 đồng/kg, OM 5451 từ 5.500 - 5.700 đồng/kg, OM18 từ 6.200 - 6.200 đồng/kg, riêng Đài thơm 8 từ 6.200 - 6.350 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg. Ngoài ra, nếp tươi Long An có giá từ 4.400 - 4.600 đồng/kg.
Bên cạnh đó, giá một số mặt hàng gạo tại An Giang vẫn ổn định. Giá gạo Nhật là 17.000 đồng/kg, nếp từ 14.000 - 15.000 đồng/kg, Jasmine từ 14.000 - 15.000 đồng/kg, Hương Lài 17.000 đồng/kg, gạo thường từ 11.000 - 12.000 đồng/kg…
Hiện nhiều tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả nước dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp. Nhiều địa phương phải áp dụng giãn cách nên việc thu hoạch, lưu thông hàng hóa; trong đó, có mặt hàng lúa gạo đang gặp nhiều khó khăn. UBND tỉnh Đồng Tháp đã lên 3 kịch bản để thu hoạch, tiêu thụ nông sản trong bối cảnh dịch COVID-19.
UBND tỉnh Đồng Tháp yêu cầu, các mặt hàng nông sản của tỉnh được sản xuất, thu hoạch, chế biến và lưu thông, tiêu thụ phải đảm bảo nhanh, thuận lợi, an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh theo đúng quy định trong phòng, chống dịch COVID-19. Các ngành chức năng có liên quan hỗ trợ, giúp người dân, hợp tác xã từ công tác thu hoạch, chế biến và tiêu thụ lúa gạo khi vụ thu hoạch.
Tỉnh An Giang cũng hỗ trợ xét nghiệm COVID-19 để giúp dân thu hoạch 1,3 triệu tấn lúa Hè Thu. Tỉnh hỗ trợ xét nghiệm COVID-19 theo hình thức mẫu gộp đối với người thu hoạch, vận chuyển, thương lái, doanh nghiệp đến địa bàn thu mua lúa Hè Thu 2021. Các doanh nghiệp thực hiện vận chuyển và thu mua nông sản trên địa bàn tỉnh An Giang đăng ký danh sách phương tiện vận chuyển đường bộ. Theo đó, Sở Giao thông Vận tải sẽ hướng dẫn các thủ tục làm "thẻ xanh" vận chuyển hàng hoá đi qua các địa bàn đang giãn cách xã hội.
Cùng với sự ổn định của thị trường trong nước, giá gạo 5% tấm của Việt Nam cũng không đổi so với tuần trước, ở mức từ 465 - 470 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ tháng 7/2020. Một thương lái có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, người nông dân bắt đầu thu hoạch vụ mùa Hè Thu ở hầu hết khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhưng hoạt động bán cho thương lái chậm lại do các biện pháp hạn chế nhằm ngăn ngừa dịch COVID-19.
Các thương nhân cho rằng, giá gạo ở Việt Nam có thể giảm trong những tuần tới do nguồn cung tăng giữa lúc các biện pháp hạn chế ngăn ngừa dịch bệnh vẫn được duy trì. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ giảm xuống mức thấp nhất trong gần 16 tháng qua do nguồn cung mới được đưa vào thị trường nhưng nhu cầu vẫn thấp. Giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ được giao dịch ở mức từ 364 - 368 USD/tấn trong tuần này, giảm so với mức từ 367 - 371 USD/tấn trong tuần trước.
Một nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada, bang Andhra Pradesh, miền Nam Ấn Độ cho biết: “Nhu cầu xuất khẩu yếu. Nguồn cung ứng gạo tăng sau khi Chính phủ bắt đầu phân phối gạo cho người dân nghèo”. Tính đến ngày 9/7, diện tích trồng lúa của Ấn Độ đạt 11,5 triệu ha.
Bên cạnh đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan giảm xuống từ 405 - 412 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ tháng 12/2019, từ mức 410 - 425 USD/tấn trong tuần trước đó. Các nhà giao dịch tại Bangkok cho biết, đồng baht giảm giá so với đồng USD tiếp tục làm giảm giá gạo xuất khẩu. Số liệu chính thức cho thấy, xuất khẩu gạo của Thái Lan trong giai đoạn tháng 1-5/2021 đạt khoảng 1,78 triệu tấn gạo, giảm 31% so với cùng kỳ năm trước.
Về thị trường nông sản Mỹ, giá các mặt hàng nông sản tại sàn Chicago (Mỹ) diễn biến trái chiều trong phiên giao dịch cuối tuần 16/7, với giá ngô giảm trong khi giá lúa mỳ và đậu tương tăng.
Chốt phiên này, giá ngô giao tháng 12/2021 giảm 4,25 xu Mỹ (0,76%) xuống 5,52 USD/bushel. Giá lúa mỳ giao tháng 9/2021 tăng 20,5 xu Mỹ (3,05%) lên 6,925 USD/bushel, còn giá đậu tương giao tháng 11/2021 tăng 11,75 xu Mỹ (0,85%) lên 13,9175 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).
Công ty nghiên cứu AgResource, có trụ sở tại Chicago (Mỹ) lưu ý rằng, giá lúa mỳ tăng do dự báo sản lượng lúa mỳ của Nga sẽ giảm. Lúa mỳ vụ Xuân đạt mức cao kỷ lục mới khi các mô hình dự báo thời tiết kéo dài ấm áp và khô hoàn toàn ở miền Nam Canada đến ngày 26/7.
Theo dự báo, thời tiết sẽ khô hơn ở Minnesota và khu vực Trung Tây nước Mỹ. Công ty nghiên cứu AgResource cho rằng, diễn biến thời tiết ở Mỹ tiếp tục chi phối giá ngũ cốc.
Thị trường cà phê thế giới cho thấy, kết thúc phiên giao dịch mới đây, giá cà phê Robusta tại London giao tháng 9/2021 tăng 11 USD/tấn lên mức 1.767 USD/tấn. Còn giá cà phê Robusta giao tháng 11/2021 tăng 6 USD/tấn lên mức 1.756 USD/tấn. Trong khi đó, trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 9/2021 tăng 4,3 xu Mỹ/lb lên mức 161,35 xu Mỹ/lb, giao tháng 12/2021 tăng 4,2 xu Mỹ/lb lên mức 164.1 xu Mỹ/lb (1b =0,4535 kg).
Trong phiên giao dịch cuối tuần, giá cà phê thế giới đồng loạt tăng. Sau khi có thông tin về tình trạng sương giá tại các vùng trồng trọng điểm ở Brazil, giá cà phê Arabica đã quay đầu giảm. Tuy nhiên, khi thông tin trên được xác nhận là tầm ảnh hưởng không lớn đã kéo giá mặt hàng cà phê này quay trở lại.
Dự báo trong thời gian tới, giá cà phê sẽ tiếp tục phục hồi do nhu cầu tăng cao, trong khi sản lượng giảm do chịu tác động của thời tiết cực đoan tại một số quốc gia sản xuất lớn.
Trong khi đó, tại thị trường Việt Nam ngày 17/7, giá cà phê tăng trung bình 200 đồng/kg tại các vùng trọng điểm so với cùng thời điểm sáng hôm trước, ở mức từ 35.500 - 36.400 đồng/kg. Dự báo trong thời gian tới, giá cà phê sẽ tiếp tục phục hồi do nhu cầu tăng cao, trong khi sản lượng giảm.
Bích Hồng - Hà Chung (TTXVN)
Giá cà phê trên sàn phái sinh thương phẩm robusta London vào ngày giao dịch cuối tuần lập đỉnh mới tại 1.777 và đóng cửa tại 1.767 đô la Mỹ/tấn, gần mức cao nhất tính từ quí 4-2018. Thị trường trong nước cũng đã nâng lên quanh 37 triệu đồng/tấn, nhưng giao dịch không mấy nhộn nhịp. Tại sao? Liệu hướng tăng trên thị trường cà phê có còn trắc trở?
Trên sàn giao dịch robusta London, nơi các nhà kinh doanh cà phê Việt Nam thường dùng để tham chiếu, giá cứ nhồi lên mấy tuần liên tiếp. Hiệu suất đầu tư cà phê trên sàn này tính từ đầu năm đến nay tăng 24,09%, tương đương với 343 đô la Mỹ/tấn, khi đóng cửa cuối tuần chốt tại 1.767 đô la/tấn so với 1.424 lập vào ngày 31-12-2020. Giá phái sinh đang muốn tìm lại đỉnh cao gần nhất xuất hiện vào quí 4-2018 bấy giờ được ghi nhận là 1.792 đô la/tấn. Liệu giá cà phê nội địa có lên tương đồng với thời kỳ ấy tại mức 38,5 triệu đồng/tấn?
Nhiều nhà xuất khẩu cho rằng nhìn con số và riêng độ nhảy tại sàn London, ai cũng thấy còn đà tăng kể từ đầu tháng 7-2021 khi sàn chuyển cấu trúc giá từ thuận chiều sang nghịch đảo. Nên chuyện tăng lên mức ấy chỉ là vấn đề thời gian. Nhưng cụ thể đến khi nào thì đạt các mức ấy, không dễ có câu trả lời, nhất là giá cà phê trong nước.
Trong ngành cà phê, hai tháng 7 và 8 thường là thời gian các nhà kinh doanh và rang xay nghỉ hè nên mua bán chậm, giá cả dật dờ. Nhưng năm nay giá biến động lẹ làng nhưng giao dịch mua bán lại cho cảm giác “xót ruột”.
Giá tăng nhưng giao dịch trong nước trầm lắng
“Cách nay một tuần, có nhà nhập khẩu chào mua cà phê xuất khẩu 37,1 triệu/đồng/tấn nhưng không ai bán, họ chuyển sang chấp nhận mua cùng giá với hàng nguyên liệu cũng không mua được”, một doanh nhân tại TPHCM cho biết. Tuy vậy, cũng chỉ có người thiếu hàng hoặc mua để đầu cơ giá lên chứ không phải nhiều người nhảy vào mua một lúc “đại trà” như những năm trước. Như vậy, nhu cầu mua hàng như nhà nhập khẩu nêu trên nên được xem là trường hợp hiếm hoi.
Trong khi đó, người bán hàng thực đến nay không có sẵn cà phê trong tay do đã gởi hàng vào kho, dù muốn bán cũng không thể đòi được mức cao ấy mà chỉ quanh 36,5 triệu đồng/tấn vì chủ kho báo không có nhu cầu mua, nên giá rẻ mới chốt. Còn rút hàng ra? Chủ kho tính biết bao nhiêu phí và lãi gộp ngân hàng, nên cũng chỉ quanh mức thấp, thậm chí tệ hơn mức giá họ chấp thuận.
Bên bán không được tự do đã đành, bên mua còn quá nhiều hàng trong kho chưa giải phóng, nên mạch trao đổi đều bị tắc. Trong khi đó, hàng robusta Brazil đã thu hái xong cho năm nay với phần chắc robusta nước này được mùa, chừng 1,2 triệu tấn, bằng 2/3 sản lượng cà phê Việt Nam. Nên giá trên sàn hiện nay không do nước sản xuất cà phê robusta lớn nhất là Việt Nam quyết định, mà chính là Brazil và tiếp đó là Indonesia vì nước này cũng đã ra hàng niên vụ mới.
Mặt khác, so với giá bán xuất khẩu tính theo phương thức giao hàng qua lan can tàu (FOB), giá cà phê loại 2 của Brazil đang được tính cao hơn giá niêm yết sàn London đến 100 đô la/tấn, cao hơn giá cùng loại tối đa 5% đen bể của Việt Nam đến 200 đô la/tấn.
Tại sao? Cước tàu đang chi phối mạnh giá xuất khẩu cà phê tùy từng nước. Một container 20 feet từ Brazil qua Mỹ, người mua phải trả 4.000 đô la/container trong khi từ Việt Nam 10.000 đô la/container. Như vậy, thị phần xuất khẩu qua Mỹ của cà phê Việt Nam cho hàng cà phê thương mại tạm thời bị hạn chế.
“Mua hàng mà để đó thì làm sao mà mua tiếp được!”, đại diện một nhà nhập khẩu cho biết. Nhiều người muốn bán lại cho các nhà xuất khẩu Việt Nam hay thường gọi là “cà phê xuất khẩu ngược” cũng không xong vì giá mua trước đây ở mức cộng (cao hơn giá niêm yết), thì nay phải bán trừ lùi, không ai chịu lỗ kiểu này. Chính vì tắc nghẽn trong khâu hậu cần mà giao dịch trên thị trường nội địa “đứng bánh” và… chưa biết cho đến khi nào.
Có lẽ để giải quyết một phần khó khăn do giá cước tàu quá cao, sàn cà phê robusta phải dàn xếp bằng cách cho giá tháng giao hàng gần cao hơn giá tháng xa mà thị trường gọi là vắt giá. Theo dõi giao dịch, lần vắt giá này không xuất phát từ thiếu hàng thực sự nhưng phải nói rõ các tồn kho tại nước tiêu thụ và sàn giảm do hàng từ các nước sản xuất không đi được. Còn tồn kho hàng thực thì vẫn đầy tại nước sản xuất, chủ yếu nằm trong tay người mua là các nhà nhập khẩu.
Tồn kho đạt chuẩn thuộc sàn robusta London tuần trước tụt xuống dần chỉ còn 147.060 tấn. Cấu trúc vắt giá đang báo hiệu cho thị trường biết sàn và kho tại các nước tiêu thụ đang cần hàng nhưng chỉ cung cấp vừa đủ số tiền chênh lệch như tỏ ý muốn dàn xếp giá cước, nên mức chênh lệch giữa các tháng chỉ một vài chục đô la Mỹ. Thế thì một khi các nhà kinh doanh “cáp” được giá tàu, đó cũng là lúc báo hiệu hướng lên của giá trên sàn sẽ không như ý muốn.
Hơn nữa, lượng hàng robusta tại Brazil hết sức sẵn sàng. Giá cước Brazil-Mỹ rẻ. Cơ hội robusta Brazil chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu nhiều hơn. Một khi nông dân Brazil chấp nhận giá mua, đặc biệt lúc đồng nội tệ reias Brazil mất giá, thì bấy giờ sẽ thấy làn sóng bán robusta từ Brazil và gây áp lực lên giá.
Tại sao bây giờ nông dân trồng robusta Brazil chưa bán? Vì nước này đang vào mùa rét. Nhà vườn muốn đợi thực hư thời tiết thế nào, nếu thời tiết tạo thuận lợi cho giá, bấy giờ họ mới bán. Nhưng nếu không thuận lợi? Họ bán càng nhanh.
Brazil đã vào mùa rét. Nhưng tính từ cuối thập niên 1990 trở lại, không thấy một trận rét đậm rét hại gây ảnh hưởng đến sản lượng cà phê Brazil vì Brazil đã di chuyển hầu hết diện tích trồng cà phê từ vùng hay bị rét hại xuống vùng ấm hơn. Như vậy, một khi giải quyết được khâu hậu cần và thị trường biết thời tiết Brazil ấm dần, các vùng cà phê không bị sương giá, thị trường sẽ bày ra những trắc trở ngáng hướng đi lên của giá trên sàn phái sinh và thị trường nội địa tại Việt Nam.
Một khó khăn trước mắt nữa là dịch Covid-19 với biến chủng Delta “sát thủ”, nhiều nước bắt đầu siết lại lệnh phong tỏa. Chắc có lẽ thị trường cà phê lại gánh thêm một khó khăn do tiêu thụ cà phê giảm.
Nguyễn Quang Bình (thesaigontimes)
Xuất khẩu cà phê trong những tháng đầu năm 2021 giảm 12% về lượng, giảm 3% về kim ngạch nhưng tăng 7,6% về giá so với cùng kỳ năm 2020.
Thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 5/2021 xuất khẩu cà phê sụt giảm trên 1% cả về lượng và kim ngạch so với tháng liền kề trước. Cụ thể xuất khẩu cà phê đạt 130.285 tấn, tương đương 243,54 triệu USD. Tuy nhiên, giá cà phê tăng nhẹ 0,2%, đạt 1.869,3 USD/tấn.
Trong 5 tháng năm 2021, xuất khẩu giảm 12% về lượng, giảm 3% về kim ngạch nhưng tăng 7,6% về giá so với cùng kỳ năm 2020, đạt 715.263 tấn cà phê, tương đương tỷ 1,3 tỷ USD.
Trong 5 tháng đầu năm, cà phê của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Đức, chiếm 14% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt 178,67 triệu USD, giá tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2020.
Đông Nam Á là thị trường lớn thứ 2 về tiêu thụ cà phê Việt Nam giảm 3,5% về lượng, nhưng tăng 6,7% kim ngạch và tăng 10,6% về giá so với cùng kỳ, đạt 149,67 triệu USD. Xuất khẩu cà phê sang thị trường Mỹ giảm 24,7% về lượng, giảm 18,6% về kim ngạch nhưng tăng 8,1% về giá, đạt 101,09 triệu USD.
Thị trường Trung Quốc là điểm sáng duy nhất trong xuất khẩu cà phê, tăng mạnh 61% về lượng và tăng 52,7% kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 52,8 triệu USD.
Nhìn chung, trong 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu cà phê sang đa số thị trường bị sụt giảm cả lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, nhưng giá lại tăng./.
Phương Hoài/VOV.VN
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất tăng thêm 15% lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng cho 8 nhóm đối tượng, từ ngày 1/1/2022...
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa trình Chính phủ dự thảo Nghị định Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng, trong đó Bộ đề xuất điều chỉnh tăng thêm 15% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng cho 8 nhóm đối tượng từ ngày 1/1/2022.
Đối với người có mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh mà vẫn thấp hơn 2,5 triệu đồng/tháng thì tiếp tục điều chỉnh, theo hướng tăng thêm 200.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ 2,3 triệu đồng/người/tháng trở xuống.
Đồng thời, tăng lên bằng 2,5 triệu đồng/người/tháng đối với những người có mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ 2,3 đồng/người/tháng đến dưới 2,5 đồng/người/tháng.
“Mức điều chỉnh 15% nhằm đảm bảo bù đắp trượt giá để duy trì giá trị của khoản lương hưu, trợ cấp hiện hưởng của người thụ hưởng do tác động bởi yếu tố lạm phát. Đồng thời, chia sẻ một phần thành quả từ phát triển kinh tế của 3 năm 2019, 2020 và năm 2021, do trong năm 2020 và năm 2021 không thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội”, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội lý giải.
Bộ cũng đánh giá, mức điều chỉnh trên thấp hơn mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội trong ba năm 2019, 2020 và năm 2021 (khoảng gần 17%). Như vậy, phù hợp với tốc độ tăng trưởng đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tính toán, thực hiện theo phương án này thì số đối tượng được điều chỉnh từ nguồn ngân sách nhà nước chi trả ước là 878.156 người, dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2022 là 6.319 tỷ đồng.
Số đối tượng được điều chỉnh từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội chi trả ước là 2.179.897 người, dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2022 là 20.591 tỷ đồng.
Trên cơ sở đánh giá tác động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thấy rằng, việc thực hiện điều chỉnh lương hưu từ ngày 1/1/2022 với mức điều chỉnh 15% có tác động tích cực về mặt kinh tế, xã hội đối với những người đang hưởng lương hưu, trợ cấp, đảm bảo phù hợp với quy định tại Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội.
8 nhóm đối tượng được đề xuất tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội
1. Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động; quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.
2. Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92, Nghị định số 34, Nghị định số 121, Nghị định số 09.
3. Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật, người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91, Quyết định số 613; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu buộc phải thôi việc.
4. Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường.
5. Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142, Quyết định số 38 của Thủ tướng Chính phủ.
6. Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53 của Thủ tướng Chính phủ.
7. Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62.
8. Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.
Nguồn vneconomy.vn
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "