Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá tiêu thế giới hôm nay 05/9/2023
Giá tiêu thế giới rạng sáng 05/9/2023 (giờ Việt Nam), theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cập nhật giá tiêu Indonesia tiếp tục biến động, giá tiêu một số nước khác không thay đổi.
Cụ thể, tiêu đen Lampung (Indonesia) có giá 4.347 USD/tấn, tăng 0,02% so với phiên giao dịch trước; Giá tiêu trắng Indonesia là 6.506 USD/tấn, giá giảm 1,09%.
Trong khi đó, giá tiêu đen Brazil ASTA 570 giữ nguyên ở mức 3.350 USD/tấn; Giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA giữ mức 4.900 USD/tấn; giá tiêu trắng Malaysia ASTA vẫn ở 7.300 USD/tấn.
Giá tiêu đen Việt Nam xuất khẩu cũng tiếp tục giữ giao dịch ở 3.500 USD/tấn với loại 500 g/l, loại 550 g/l mức 3.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 5.100 USD/tấn.
Giá tiêu trong nước
Giá tiêu hôm nay, ngày 05/9/2023 thị trường trong nước các địa phương đồng loạt tăng 500 đồng/kg. Theo đó, giá tiêu dao động từ 69.500 đồng/kg – 73.000 đồng/kg.
Cụ thể, giá tiêu khu vực Tây Nguyên, dao động từ 69.500 đồng/kg - 71.000 đồng/kg. Trong đó, giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) được thương lái thu mua ở mức 69.500 đồng/kg. Giá tiêu Đắklắk hôm nay và giá tiêu tại Đắk Nông ở mức 71.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ giá tiêu hôm nay cũng tăng 500 đồng, dao động 72.000 – 73.000 đồng/kg.
Trong đó, tại Bình Phước, giá tiêu ở mức 72.000 đồng/kg. Giá tiêu Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn có giá cao nhất và hôm nay được thương lái thu mua ở mức 73.000 đồng/kg.
Bảng giá tiêu trong nước hôm nay 05/9/2023
|
Địa phương |
ĐVT |
Giá mua của thương lái (đồng) |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
kg |
69.500 |
+ 500 |
|
Đắk Lắk |
kg |
71.000 |
+ 500 |
|
Đắk Nông |
kg |
71.000 |
+ 500 |
|
Bình Phước |
kg |
72.000 |
+ 500 |
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
kg |
73.000 |
+ 500 |
Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 8/2023 đạt 16.000 tấn, tăng 4,9% so với tháng 7/2023, nhưng giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2023, lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam đạt 183.900 tấn, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2022.
Nguồn: Minh Quang - Báo Công Thương
Vài nét chung về tình hình thị trường:
Tỷ lệ lạm phát khu vực đồng Euro được xác nhận ở mức 5,3% vào tháng 7/2023, mức thấp nhất kể từ tháng 1/2022, chủ yếu do giá năng lượng tiếp tục giảm (-6,1% so với -5,6%). Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát cơ bản không bao gồm giá năng lượng, thực phẩm, rượu và thuốc lá không đổi ở mức 5,5% và hiện lần đầu tiên cao hơn tỷ lệ chung kể từ năm 2021. So với tháng 6, CPI tại Khu vực đồng Euro giảm 0,1%. ECB đặt mục tiêu lạm phát ở mức 2%.
Về thị trường cà phê (nhận định về robusta tính trên tháng 11 và arabica 12/23): Các nút giá quan trọng cần lưu ý trong tuần này
Nhìn qua diễn biến thị trường hàng hóa đối với lạm phát, có thể đoán nếu như giá dầu thô không giảm, thì chính quyền các nước tiêu thụ kéo giá thứ khác xuống để chặn lạm phát. Hai sàn cà phê hình như không thoát khỏi cách vận hành thị trường ấy.
Trong chiều hướng đó, cần lưu ý các nút sau đây trên sàn London: Đáy mới lập gần đây 2351 rất cận kề với đáy 2336/2337 lập vào các ngày 11 và 12/5/23. Nếu như các mức này bị phá, về kỹ thuật nói thẳng giá có thể về tận 2000. Tuy nhiên, cũng không phải dễ về đó vì điểm gặp bình quân động từ đầu năm đến nay nằm tại 2255, 200 ngày tại 2160.
Kích cho được hướng lên giá London cần qua khỏi vùng 2430, xét ra còn dài trừ khi nhóm đầu cơ mua lại với niềm tin vững Fed dừng tăng và hạ lãi suất!
Đối với sàn arabica, mức 144.85 ập ngày 11/1 là cực kỳ quan trọng. Mất nó có thể xem như mất tất cả. Nhưng hy vọng các quỹ đầu cơ “tạm thời” dừng bán để giúp giá arabica phục hồi. Nhưng nếu như chỉ số DXY vẫn mạnh như hiện nay và đồng nội tệ Brazil yếu như bây giờ, thì khó thoát khỏi chuyện đầu cơ bán ra.
London robusta tháng 11/23: 2363-28( 2401/2361)
Mức tăng có thể kích mua của sàn này nằm tại 2439, còn đến +80 USD nữa mới đạt.
Bây giờ thì chỉ mong sao cho qua khỏi và đóng cửa 2402 cái đã, rồi tính sao thì tính để tránh bị giảm sâu hơn. Các nút giảm đáng lưu ý sắp tới là nếu chạm và trượt khỏi 2335, London yếu nhiều thêm nữa để về 2300.
–Hướng tăng: 2389/2415/2429
-Hướng giảm: 2349/2335/2309
New York arabica tháng 12/23: 150+0.90(151.75/147.2)
Giá arabica chưa kích tăng được phiên cuối tuần, vì không vượt qua 152.30 như đã nói mà chỉ dừng tại 151.75 (đỉnh phiên mới qua).
-Hướng tăng: 151.25/152.10/154.20/156.65
-Hướng giảm: 147.20/145.10/143.00
==
NGUYỄN QUANG BÌNH
Cập nhật giá tiêu hôm nay ngày 21/8/2023, giá tiêu Đắklắk, Gia Lai, giá tiêu Bà Rịa - Vũng Tàu hôm nay tăng hay giảm; giá tiêu mới nhất ngày 21/8 thế nào?
Giá tiêu trong nước
Giá tiêu hôm nay ngày 21/8/2023 tại thị trường trong nước giao động từ 69.000 đồng/kg – 71.500 đồng/kg.
Trong đó, giá tiêu tại khu vực Tây Nguyên vẫn đứng giá quanh mốc 69.000 đồng/kg – 70.000 đồng/kg. Cụ thể, giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) hôm nay đang được thương lái thu mua ở mức 69.000 đồng/kg, giữ nguyên giá so với hôm qua. Tương tự giá tiêu Đắklắk hôm nay và giá tiêu tại Đắk Nông cũng ở mức 70.000 đồng/kg, không có biến động so với hôm qua.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu vẫn giữ ổn định so với phiên trước mức giá giao động khoảng 69.000 đồng – 71.500 đồng . Trong đó, Bà Rịa – Vũng Tàu giữ nguyên giá 71.500 đồng/kg. Giá tiêu Bình Phước cũng đạt mức 70.500 đồng, tại Đồng Nai còn chỉ còn 69.000 đồng.
Báo cáo mới nhất của Cục Xuất Nhập khẩu - Bộ Công Thương cho thấy, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 7/2023 đạt mức 3.731 USD/tấn, tăng 3,2% so với tháng 6/2023, nhưng vẫn giảm 11,6% so với tháng 7/2022.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2023, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu của Việt Nam đạt mức 3.217 USD/tấn, giảm 28,3% so với cùng kỳ năm 2022.
So với tháng 7/2022, xuất khẩu hạt tiêu sang hầu hết các thị trường truyền thống và tiềm năng ghi nhận giảm trong tháng 7/2023, ngoại trừ Ấn Độ, Đức và Thái Lan.
Cũng trong giai đoạn 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hạt tiêu sang hầu hết các thị trường chủ lực giảm so với cùng kỳ năm ngoái, ngoại trừ Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngoài ra, số liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết, tính đến hết tháng 6/2023, Việt Nam xuất khẩu được 152.986 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 138.377 tấn, tiêu trắng đạt 14.609 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 485,9 triệu USD, tiêu đen đạt 417,9 triệu USD, tiêu trắng đạt 68,0 triệu USD.
So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu tăng 21,8% tương đương 27.433 tấn, tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu giảm 14,6% tương đương giảm 82,3 triệu USD. Giá xuất khẩu bình quân tiêu đen 6 tháng đầu năm 2023 đạt 3.484 USD/tấn, tiêu trắng đạt 5.011 USD/tấn, giảm lần lượt 879 USD đối với tiêu đen và 1.070 USD đối với tiêu trắng.
Giá tiêu thế giới hôm nay 21/8/2023
Trên thị trường, giá tiêu thế giới hôm nay của các nước đang đi ngang so với phiên giao dịch hôm qua.
Số liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu quốc tế (IPC) cập nhật cho thấy, giá tiêu đen Lampung (Indonesia) ở mức 4.255 USD/tấn; Giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 2.950 USD/tấn; Giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA giữ mức 4.900 USD/tấn; giá tiêu trắng Malaysia ASTA vẫn ở 7.300 USD/tấn; Giá tiêu trắng Muntok: Ở mức 6.626 USD/tấn, không đổi.
Trong khi đó, giá tiêu đen Việt Nam giao dịch ở 3.500 USD/tấn với loại 500 g/l, loại 550 g/l mức 3.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 5.100 USD/tấn. Thị trường hồ tiêu thế giới tiếp tục giữ ổn định.
Theo nhận định của các chuyên gia, tới đây sau khi Indonesia và Brazil vào vụ thu hoạch sẽ có đánh giá sát thực tế hơn về vụ mùa để cân nhắc giao dịch. Kỳ vọng thị trường Mỹ và châu Âu sau thời gian giảm mua để sử dụng hàng trong kho dự trữ sẽ tăng cường mua hồ tiêu trở lại. Chính vì vậy giá hồ tiêu đến cuối năm sẽ tăng lên.
Theo đánh giá của Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế (IPC), Indonesia đang trong thời kỳ thoái trào cây tiêu, tình trạng tương tự được ghi nhận ở Brazil và Việt Nam.
Dự báo chung cho năm nay, vụ tiêu Brazil, Indonesia và Ấn Độ có khả năng cao sẽ giảm, trong khi tại Campuchia và Malaysia tăng. Còn ở Việt Nam, con số chính thức cho thấy sản lượng năm nay tăng nhẹ trong sự hoài nghi của thị trường, bởi ngay từ đầu vụ thu hoạch đã ghi nhận sự sụt giảm ở rất nhiều địa phương.
Bảng giá tiêu hôm nay 21/8/2023
|
Địa phương |
ĐVT |
Giá mua của thương lái (đồng) |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
kg |
69.000 |
- |
|
Đắk Lắk |
kg |
70.000 |
- |
|
Đắk Nông |
kg |
70.000 |
- |
|
Bình Phước |
kg |
70.500 |
- |
|
Đồng Nai |
kg |
69.000 |
|
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
kg |
71.500 |
- |
Minh Quang - Báo Công thương
Giá cà phê trong nước ngày 15/8/2023, giảm so với phiên giao trước đó. Mặc dù trong 4 phiên liên tiếp đều giảm giá, song giá cà phê trong nước bước qua tuần này tiếp tục giảm, gỉam từ 100 - 500 đồng/kg tuỳ địa phương. Cụ thể, đạt mức giá 67.400 đồng/kg tại Đắk Nông.
Cụ thể, giá cà phê tại tỉnh Gia Lai, tỉnh Kon Tum đứng ở mức giá 67.600 đồng/kg. Tại tỉnh Đắk Nông, giá cà phê được thu mua với giá cao nhất là 67.400 đồng/kg.
Giá cà phê nhân xô (cà phê nhân, cà phê nhân tươi) tại tỉnh Lâm Đồng ở các huyện như Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà, cà phê được thu mua với giá 66.500 đồng/kg.
Giá cà phê hôm nay tại tỉnh Đắk Lắk hôm nay ở huyện Cư M'gar giá cà phê hiện ở mức 67.200 đồng/kg. Còn tại huyện Ea H'leo, thị xã Buôn Hồ được thu mua cùng mức 66.200 đồng/kg.

Giá cà phê thế giới, trên sàn giao dịch thế giới, giá cà phê Robusta trên sàn giao dịch London (Anh) ở phiên giao dịch gần nhất tăng 0,23%, dao động từ 2.633 – 2.681 USD/tấn tùy kỳ hạn giao hàng.
Cụ thể, giá cà phê giao hàng tháng 9/2023 đạt 2.672 USD/tấn, giao cà phê tháng 11/2023 đạt 2.517 USD/tấn; giao cà phê tháng 01/2024 đạt 2.464 USD/tấn và giao cà phê tháng 03/2024 đạt 2.430 USD/tấn.
Giá cà phê Arabica trên sàn New York (Mỹ) ở phiên giao dịch gần nhất giảm –1,31% từ 156.00 – 159.45 cent/lb tùy kỳ hạn giao hàng. Trong đó, cà phê giao tháng 9/2023 đạt 157,80 cent/lb; giao hàng kỳ hạn tháng 12/2023 đạt 157,70 cent/lb; giao cà phê tháng 03/2024 đạt 158,80 cent/lb và giao cà phê kỳ hạn tháng 05/2024 đạt 159,85 cent/lb.
So với giá cà phê giao dịch phiên gần nhất, đối với cà phê Robusta giá không có sự chênh lệch nhiều, còn giảm 1-2 cent/lb đối với cà phê Arabica.
So với phiên giao dịch cùng kỳ tuần trước, giá cà phê thế giới tăng khoảng trên dưới 50 USD/tấn đối với cà phê Robusta, còn đối với cà phê Arabica thì mức giao động giảm từ 2 đến 3 cent/lb tuỳ thời điểm trong ngày.
Theo các chuyên gia, mặc dù giá cà phê giảm trong 4 phiên liên tiếp trong tuần qua, tuy nhiên mức giảm không đáng kể (trên 1%) và vẫn giữ mức giá cao so với phiên giao dịch tuần trước. Nguyên nhân được cho là xuất khẩu cà phê dần được đẩy mạnh tại Brazil, từ đó tiếp tục gây áp lực lên diễn biến giá. Theo nhận định, giá cà phê tuần mới có xu hướng ổn định, đi ngang, bởi vì thời tiết khô hạn, nắng nóng đã ảnh hưởng tiêu cực đến vụ mùa của các nước xuất khẩu cà phê. Điều này đã khiến các thị trường tiêu thụ quay lại mối lo thiếu hụt nguồn cung, trong khi nhu cầu tiêu thụ cà phê Robusta của thế giới ngày tăng
Kiều Anh - Báo Công Thương
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "