Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Thị trường xuất khẩu cà phê năm 2025 đánh dấu một cột mốc lịch sử đối với Việt Nam khi lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu vượt ngưỡng 8 tỷ USD, bất chấp những biến động mạnh về giá và sản lượng vào giai đoạn cuối năm.
Dưới đây là tổng quan chi tiết về thị trường:
Năm 2025 được coi là "năm vàng" của ngành cà phê Việt Nam về mặt giá trị:
Kim ngạch xuất khẩu: Ước đạt trên 8,4 tỷ USD (tăng hơn 55% về giá trị so với năm 2024).
Giá xuất khẩu bình quân: Duy trì ở mức cao chưa từng có, trung bình khoảng 5.600 – 5.700 USD/tấn. Có những thời điểm đạt đỉnh gần 6.000 USD/tấn.
Sản lượng: Mặc dù giá trị tăng vọt nhưng sản lượng xuất khẩu có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ (đạt khoảng 1,5 triệu tấn), do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và diện tích canh tác bị thu hẹp.
Châu Âu tiếp tục là khách hàng lớn nhất của cà phê Việt Nam, chiếm gần 50% tổng kim ngạch:
Các quốc gia dẫn đầu: Đức (chiếm ~16% thị phần), Ý, Tây Ban Nha và Nhật Bản.
Thị trường đột phá: Mexico ghi nhận mức tăng trưởng thần tốc (gấp hàng chục lần so với cùng kỳ) do nhu cầu nhập khẩu cà phê nguyên liệu tăng cao.
Thị trường tiềm năng: Trung Quốc và các nước ASEAN đang chuyển dịch mạnh sang tiêu thụ cà phê hòa tan và Robusta chất lượng cao của Việt Nam.
Thị trường năm 2025 không chỉ xoay quanh giá cả mà còn tập trung vào các tiêu chuẩn mới:
Quy định EUDR: Các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu phải thích ứng nghiêm ngặt với Quy định chống phá rừng của EU (EUDR). Những lô hàng có chứng chỉ bền vững (4C, Rainforest Alliance) có giá trị cao hơn hẳn.
Sự lên ngôi của Robusta: Từng bị xem là loại cà phê "thứ cấp", nhưng trong năm 2025, Robusta Việt Nam trở thành lựa chọn ưu tiên toàn cầu do nguồn cung Arabica khan hiếm và giá đắt đỏ.
Chế biến sâu: Tỷ lệ xuất khẩu cà phê hòa tan và cà phê rang xay tăng trưởng mạnh, giúp nâng cao giá trị gia tăng thay vì chỉ xuất khẩu cà phê nhân thô.
Dù đạt kỷ lục, thị trường nửa cuối năm 2025 bắt đầu xuất hiện những tín hiệu cần lưu ý:
Giá hạ nhiệt: Vào quý IV/2025, giá cà phê bắt đầu có dấu hiệu lao dốc (giảm khoảng 20-30% so với đỉnh) do áp lực nguồn cung từ vụ thu hoạch mới tại Brazil và Việt Nam thuận lợi.
Cạnh tranh: Brazil đang đẩy mạnh diện tích trồng Robusta, đe dọa vị thế "số 1" của Việt Nam ở phân khúc này.
Chi phí Logistics: Căng thẳng địa chính trị vẫn gây áp lực lên phí vận chuyển tàu biển và thời gian giao hàng sang các thị trường xa như Mỹ và EU.
Nhận định: Ngành cà phê đang chuyển dịch từ "tăng trưởng theo số lượng" sang "tăng trưởng theo giá trị và trách nhiệm". Việc duy trì mức kim ngạch 8 tỷ USD trong các năm tới sẽ phụ thuộc lớn vào khả năng canh tác bền vững và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của quốc tế.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu gạo năm 2025 đạt 7,85 triệu tấn, trị giá 4,02 tỷ USD, giảm 12,7% về khối lượng và giảm 29,4% về giá trị so với năm 2024.
Đây là mức giảm mạnh nhất trong nhiều năm trở lại đây, phản ánh bối cảnh thị trường thế giới dư cung, nhu cầu chững lại và cạnh tranh gia tăng...
GIÁ GẠO VẪN CHƯA CÓ DẤU HIỆU TĂNG
Trong tháng 12/2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 340 nghìn tấn gạo, kim ngạch đạt 189 triệu USD. Như vậy, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 12 đạt bình quân 555 USD/tấn.
Ở trong nước, VFA cho biết vụ Thu Đông 2025 tại Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch gần xong với sản lượng khoảng 3,45 triệu tấn. Vụ Đông Xuân 2025–2026 đã xuống giống khoảng 42% diện tích kế hoạch. Nguồn cung nội địa nhìn chung ổn định, song đầu ra xuất khẩu kém thuận lợi khiến giá lúa chịu áp lực.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đầu tháng 12/2025 nằm ở nhóm trung bình cao, nhưng giảm nhẹ về cuối tháng khi nguồn cung toàn cầu tăng mạnh.
Các thương nhân lo ngại năm 2026 sẽ khó khăn hơn khi Philippines có thể tái áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, còn Indonesia - thị trường mua lớn trước đây, hiện gần như rút khỏi thị trường do dư cung nội địa. Trong khi đó, Ấn Độ duy trì nguồn cung lớn và tiếp tục tạo sức ép cạnh tranh lên giá gạo toàn cầu.
Tại Ấn Độ, giá gạo xuất khẩu tăng lên 350-357 USD/tấn, mức cao nhất gần ba tháng do giá nội địa tăng trong khi nhu cầu quốc tế vẫn yếu. Thái Lan giữ giá gạo 5% tấm ở mức 410 USD/tấn, nhưng nhu cầu đã chững lại từ sau Giáng sinh, chủ yếu giao các hợp đồng đã ký trước đó.
Bangladesh vừa phê duyệt mua 50.000 tấn gạo từ Ấn Độ với giá gần 360 USD/tấn trong bối cảnh giá gạo nội địa nước này đã tăng 15-20% trong một năm qua, bất chấp tăng nhập khẩu và giảm thuế. Điều này cho thấy áp lực lạm phát lương thực vẫn hiện hữu tại nhiều quốc gia.
NHỮNG TÍN HIỆU ĐẦU NĂM 2026
Một tín hiệu tích cực là Philippines sẽ mở lại nhập khẩu từ đầu năm 2026 với hạn mức ban đầu khoảng 500.000 tấn. Tuy nhiên, thuế nhập khẩu tăng từ 15% lên 20% từ ngày 16/1/2026 và tổng lượng nhập cả năm giảm xuống còn khoảng 3,6-3,8 triệu tấn, thấp hơn năm 2024 khoảng 1 triệu tấn. Điều này cho thấy thị trường vẫn mở nhưng cạnh tranh gay gắt hơn và biên lợi nhuận bị thu hẹp.
Tại Philippines, theo USDA Post, sản lượng lúa niên vụ 2025/26 dự báo giảm nhẹ xuống 19,6 triệu tấn do ảnh hưởng bão và hạn chế sau thu hoạch. Tuy nhiên, tiêu thụ tiếp tục tăng, đạt khoảng 17,6 triệu tấn gạo xay xát, phản ánh mức độ phụ thuộc cao của nước này vào cả nguồn cung trong nước và nhập khẩu.
Nhập khẩu gạo của Philippines năm tài khóa 2025/26 dự báo giảm còn khoảng 4,4 triệu tấn, giảm gần 19% so với năm trước do lệnh cấm nhập khẩu trong 4 tháng cuối năm 2025 để bảo vệ nông dân. Việt Nam vẫn là nhà cung cấp lớn nhất, tiếp theo là Myanmar và Thái Lan.
Thị trường tiêu thụ gạo lớn khác là Indonesia, hiện đang trong trạng thái dư cung sâu. Theo Hãng thông tấn quốc gia Indoneia (Antara), dự trữ gạo quốc gia nước này dự báo đạt kỷ lục 3,5 triệu tấn vào cuối năm 2025, mức cao nhất kể từ khi giành độc lập, hoàn toàn không dựa vào nhập khẩu. Sản lượng gạo của Indonesia năm 2025 ước đạt 34,79 triệu tấn, tăng 13,6% so với năm trước.
Chính phủ Indonesia đã chỉ đạo Bulog (Cơ quan Hậu cần Quốc gia Indonesia) tăng mạnh thu mua nội địa, với chỉ tiêu 4 triệu tấn gạo trong năm 2026 (so với 3 triệu tấn năm 2025) và 1 triệu tấn ngô, nhằm hỗ trợ nông dân và tăng dự trữ an ninh lương thực. Điều này khiến khả năng Indonesia quay lại nhập khẩu gạo trong ngắn hạn là rất thấp.
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Philippines và Indonesia thu hẹp, việc chuyển hướng sang phân khúc cao cấp được xem là chiến lược sống còn. EU, Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc đang là những thị trường mục tiêu cho gạo chất lượng cao, gạo đặc sản và sản phẩm chế biến.
Giống gạo ST25 tiếp tục được vinh danh “ngon nhất thế giới”, mở ra dư địa lớn cho phân khúc cao cấp tại Mỹ, châu Âu và Trung Quốc; gạo Japonica đẩy mạnh vào Nhật Bản. Nhiều doanh nghiệp cũng tăng xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu như bún, phở khô, cơm đóng hộp – những mặt hàng có giá trị gia tăng cao hơn nhiều so với gạo thô.
Nhìn chung, năm 2026 mở ra cơ hội nhưng không còn “dễ ăn”. Xuất khẩu gạo Việt Nam buộc phải chuyển từ tăng sản lượng sang nâng chất lượng, từ cạnh tranh giá sang cạnh tranh giá trị và bền vững, nếu muốn giữ vững vị thế trong bối cảnh thị trường toàn cầu dư cung và cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Nguồn: vneconomy
Giá tiêu hôm nay 5/1: Hồ tiêu nội địa lẫn thị trường thế giới đều không ghi nhận biến động mới. Hiện giá tiêu trong nước dao động từ 149.000 - 151.000 đồng/kg.
Giá hồ tiêu thế giới 5/01/2026: Thị trường ổn định
Cập nhật giá tiêu thế giới từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) sáng 5/01/2026, hồ tiêu xuất khẩu hôm nay không ghi nhận biến động mới. Các thị trường đều ổn định giá so với phiên giao dịch hôm qua.
Cụ thể, giá tiêu đen Lampung của Indonesia không biến động so với ngày hôm trước, hiện giao dịch ở mức 6.763 USD/tấn.
Tương tự, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia cũng đi ngang so với ngày hôm qua, hiện đạt 9.205 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu Brazil không biến động so với phiên giao dịch ngày hôm qua. Hiện giá tiêu Brazil giao dịch ở mức 6.000 USD/tấn.
Giá tiêu trắng của Việt Nam hôm nay không thay đổi, neo cao ở mức 9.250 USD/tấn.

Giá tiêu đen của Việt Nam loại 500 gr/l đi ngang so với hôm qua, đạt mức 6.500 USD/tấn. Tiêu đen Việt Nam loại 550 gr/l đạt 6.700 USD/tấn.
Tại Malaysia, giá tiêu đen ASTA hiện đang ổn định ở mức 9.000 USD/tấn. Giá tiêu trắng ASTA tại thị trường này trong ngày hôm nay đạt 12.300 USD/tấn, không biến động so với ngày hôm qua.
Giá tiêu trong nước hôm nay 5/01: Không biến động
Trong khi đó, giá tiêu thị trường trong nước hôm nay (5/01) đồng loạt đi ngang. Hiện giá tiêu nội địa dao động từ 149.000 - 151.000 đồng/kg.
Cụ thể, tại Gia Lai và TP. Hồ Chí Minh hôm nay giao dịch hồ tiêu với giá 150.000 đồng/kg, đi ngang so với ngày hôm qua.

Tương tự, tại Đắk Lắk và Lâm Đồng cũng không ghi nhận biến động mới về giá, thương lái thu mua hồ tiêu sáng nay với giá 151.000 đồng/kg.
Đồng Nai hôm nay hiện giao dịch hồ tiêu với giá 149.000 đồng/kg, thấp nhất trên cả nước, cũng không thay đổi so với ngày hôm qua.
Nguồn: Báo Công Thương
Giá tiêu hôm nay 5/12: Tiêu nội địa tăng từ 500 - 1.000 đồng/kg tại vài địa phương. Hiện giá tiêu trong nước giao dịch trong khoảng 147.500 - 150.000 đồng/kg.
Giá hồ tiêu thế giới 5/12: Thị trường Indonesia giảm nhẹ
Cập nhật giá tiêu thế giới từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) sáng 5/12/2025, hồ tiêu xuất khẩu hôm nay ghi nhận biến động nhẹ tại thị trường Indonesia. Các thị trường khác đều ổn định giá so với phiên giao dịch hôm qua.

Cụ thể, giá tiêu đen Lampung của Indonesia được giao dịch ở mức 6.998 USD/tấn, giảm nhẹ 0,9% so với phiên trước.
Tương tự, giá tiêu trắng Muntok của nước này cũng giảm 0,9% so với ngày hôm qua, hiện đang giao dịch ở mức 9.648 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu Brazil không biến động so với phiên giao dịch ngày hôm qua. Hiện giá tiêu Brazil giao dịch ở mức 6.250 USD/tấn.
Giá tiêu trắng của Việt Nam hôm nay không thay đổi, neo cao ở mức 9.250 USD/tấn.
Giá tiêu đen của Việt Nam loại 500 gr/l đi ngang so với hôm qua, đạt mức 6.500 USD/tấn. Tiêu đen Việt Nam loại 550 gr/l đạt 6.700 USD/tấn.
Tại Malaysia, giá tiêu đen ASTA hiện đang ổn định ở mức 9.200 USD/tấn. Giá tiêu trắng ASTA tại thị trường này trong ngày hôm nay đạt 12.300 USD/tấn, không biến động so với ngày hôm qua.
Giá tiêu trong nước hôm nay 5/12: Tăng vài nơi
Trong khi đó, giá tiêu thị trường trong nước hôm nay (5/12) tăng từ 500 - 1.000 đồng/kg ở một vài nơi. Hiện giá tiêu nội địa giao dịch trong khoảng 147.500 - 150.000 đồng/kg.

Cụ thể, tại Gia Lai hôm nay giao dịch hạt tiêu với giá 147.500 đồng/kg, tăng nhẹ 500 đồng/kg trong sáng nay.
Còn thương lái Đắk Lắk và Lâm Đồng giao dịch hồ tiêu với giá 150.000 đồng/kg, tăng 1.000 đồng/kg so với ngày hôm qua. Đây cũng là 2 địa phương có mức giá hạt tiêu cao nhất trên cả nước trong ngày hôm nay.
Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh hôm nay ghi nhận giá tiêu đi ngang so với ngày hôm qua, hiện đang giao dịch ở mức 148.000 đồng/kg.
Nguồn: Báo Công Thương
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "