PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Giá tiêu hôm nay (7/8) tiếp tục tăng, nối dài chuỗi ngày đi lên kể từ mức ghi nhận vào cuối tuần trước.

Giá tiêu trong nước

Theo khảo sát, giá tiêu được điều chỉnh tăng lên khoảng 71.000 - 74.500 đồng/kg tại thị trường nội địa.

Theo đó, Gia Lai và Đồng Nai lần lượt ghi nhận mức giá 71.000 đồng/kg và 71.500 đồng/kg, cùng tăng 1.000 đồng/kg.

Cao hơn một chút là hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông với mức giá thu mua chung là 72.000 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg.

Tương tự, giá tiêu hôm nay tại Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu lần lượt tăng 1.000 đồng/kg và 1.500 đồng/kg, lên mức 73.500 đồng/kg và 74.500 đồng/kg.

Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua (Đơn vị: đồng/kg)

Thay đổi so với hôm qua (Đơn vị: đồng/kg)

Đắk Lắk

72.000

+500

Gia Lai

71.000

+1.000

Đắk Nông

72.000

+500

Bà Rịa - Vũng Tàu

74.500

+1.500

Bình Phước

73.500

+1.000

Đồng Nai

71.500

+1.000

Giá tiêu thế giới

Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) ngày 4/8 (theo giờ địa phương), giá tiêu thế giới so với ngày 3/8 như sau:

- Tiêu đen Lampung (Indonesia): ở mức 3.768 USD/tấn, tăng 0,19%

- Tiêu đen Brazil ASTA 570: ở mức 2.950 USD/tấn, không đổi

- Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA: ở mức 4.900 USD/tấn, không đổi

Tên loại

Bảng giá tiêu đen thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 3/8

Ngày 4/8

% thay đổi

Tiêu đen Lampung (Indonesia)

3.761

3.768

0,19

Tiêu đen Brazil ASTA 570

2.950

2.950

0

Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA

4.900

4.900

0

- Tiêu trắng Muntok: ở mức 6.393 USD/tấn, tăng 0,2%

- Tiêu trắng Malaysia ASTA: ở mức 7.300 USD/tấn, không đổi

Tên loại

Bảng giá tiêu trắng thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 3/8

Ngày 4/8

% thay đổi

Tiêu trắng Muntok

6.380

6.393

0,2

Tiêu trắng Malaysia ASTA

7.300

7.300

0

Ghi nhận cho thấy, giá tiêu đen trong nước đã tăng 28% từ 58.000 – 60.000 đồng/kg đạt được vào đầu năm, lên mức đỉnh 73.000 – 77.000 đồng/kg trong tháng 5, do được thúc đẩy bởi động thái mua bù sau 3 năm đóng cửa chống dịch COVID-19 của Trung Quốc.

Tuy nhiên, sau đó giá tiêu đã đảo chiều giảm và tính đến giữa tháng 7 chỉ còn khoảng 67.500 – 70.000 đồng/kg, tương ứng giảm hơn 9% so với mức đỉnh đạt được vào giữa tháng 5.

Giá tiêu giảm trở lại chủ yếu là do Trung Quốc đã gom gần đủ lượng hàng cần thiết và bắt đầu mua chậm lại, trong khi sức mua hồ tiêu và gia vị của các thị trường châu Âu và Mỹ tiếp tục trầm lắng khi khủng hoảng kinh tế vẫn còn đang tiếp diễn.

Bên cạnh đó, việc các nước sản xuất hồ tiêu lớn trên thế giới như Brazil, Indonesia bước vào vụ thu hoạch cũng gây áp lực lên giá tiêu thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

Nguồn: vietnambiz

Cục Hàng không Việt Nam (Bộ GTVT) cho biết, từ ngày 2-8, các cảng hàng không trên toàn quốc chính thức triển khai sử dụng tài khoản định danh điện tử (VNeID) mức độ 2 đối với hành khách đi máy bay trên các chuyến bay nội địa.

Đối với công dân Việt Nam, VNeID có giá trị tương đương thẻ căn cước công dân; đối với người nước ngoài, VNeID có giá trị tương đương hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế.

Cục Hàng không Việt Nam yêu cầu các đơn vị quản lý cảng, các hãng hàng không, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không cập nhật chương trình, quy chế an ninh hàng không; chủ động giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai để tạo điều kiện thuận lợi cho hành khách, bảo đảm an ninh, an toàn; báo cáo Cục Hàng không Việt Nam các vấn đề vượt thẩm quyền.

Nguồn: Bích Quyên - Sài Gòn Giải Phóng

Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 7/2023 ước đạt 4,62 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, một số mặt hàng như rau quả, gạo... có mức tăng trưởng khá ấn tượng...

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 7/2023, kim ngạch xuất khẩu nhóm nông sản đạt 2,32 tỷ USD, tăng 27%; nhóm chăn nuôi đạt 45 triệu USD, tăng 35,6%; nhóm thủy sản đạt 800 triệu USD, giảm 15%; nhóm lâm sản đạt 1,24 tỷ USD, giảm 11%; nhóm đầu vào sản xuất đạt 210 triệu USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tính chung 7 tháng năm 2023, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 29,13 tỷ USD, giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước.

RAU QUẢ, GẠO, SẢN PHẨM CHĂN NUÔI TĂNG TRƯỞNG MẠNH

Về thị trường xuất khẩu trong 7 tháng, giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản tới các thị trường thuộc khu vực châu Á đạt 14,06 tỷ USD, tăng 2,3%; châu Mỹ đạt 6,52 tỷ USD, giảm 29,2%; châu Âu đạt 3,29 tỷ USD, giảm 13,3%; châu Phi đạt 573 triệu USD, tăng 14,1%; châu Đại Dương đạt 408 triệu USD, giảm 25,6% so với cùng kỳ năm trước.

Xét về từng ngành hàng trong 7 tháng năm 2023 so với cùng kỳ năm trước, nếu giá trị xuất khẩu nhóm thuỷ sản đạt 4,95 tỷ USD, giảm 25,4%; lâm sản 7,79 tỷ USD, giảm 25,5%; đầu vào sản xuất đạt 1,13 tỷ USD, giảm 25,1%, thì nhóm nông sản đạt gần 14,99 tỷ USD, tăng 13,2%, trong đó rau quả, gạo, sản phẩm chăn nuôi, hạt điều, cà phê vẫn điểm sáng.

Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 7 tháng tăng trưởng vô cùng ấn tượng với mức tăng 68,1% so với cùng kỳ năm trước, đạt tới 3,23 tỷ USD.

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, một trong những động lực tăng trưởng của ngành rau quả xuất khẩu là mặt hàng sầu riêng. Trong 6 tháng đầu năm 2023, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 850 triệu USD, gấp đôi cả năm 2022, trong đó, 90% được xuất sang Trung Quốc.

Dự kiến năm 2023, xuất khẩu sầu riêng của cả nước đạt 1,2 - 1,5 tỷ USD. Bên cạnh đó, các loại trái cây khác của Việt Nam cũng “tấp nập” xuất khẩu sang Trung Quốc, do nhu cầu nhập khẩu tại thị trường này tăng cao.

Ngoài thị trường Trung Quốc, rau quả xuất khẩu tới Hàn Quốc, Hà Lan, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE) cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao trong nửa đầu năm 2023. Dự báo, xuất khẩu rau quả có thể chạm mốc 5 - 5,3 tỷ USD trong năm 2023.

Với ngành hàng lúa gạo, kim ngạch xuất khẩu 7 tháng năm 2023 đạt 2,58 tỷ USD, tăng 29,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá gạo bình quân 7 tháng đạt 534 USD/tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt, sau khi Chính phủ Ấn Độ ra lệnh cấm xuất khẩu gạo trắng không thuộc dòng basmati, giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam vào cuối tháng 7/2023 đã tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái lên 558 USD/tấn.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng xuất khẩu gạo 5 tháng cuối năm sẽ càng sôi động. Sản xuất thắng lớn khi cơ cấu giống lúa có nhiều chuyển biến, năng suất cao. Nhu cầu nhập khẩu tại thị trường như Philippines, Trung Quốc và Malaysia đều tăng mạnh.

Đặc biệt, từ khi Ấn Độ cấm xuất khẩu lúa gạo, các quốc gia Trung Quốc, Philipines, Indonesia đang tranh mua gạo Việt Nam. Cùng với đó, gạo xuất khẩu sang các thị trường mới như Indonesia, một vài quốc gia châu Phi tăng đột biến. Ngoài ra, gạo thơm Việt Nam thực hiện xúc tiến thương mại thêm tại các thị trường ngách và ngày càng có vị thế riêng đã giúp bức tranh xuất khẩu có thêm nhiều thành tích.

Nhiều mặt hàng khác cũng đang thuận lợi về xuất khẩu, trong đó sản phẩm chăn nuôi đạt kim ngạch 276 triệu USD trong 7 tháng, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hạt điều đạt 1,95 tỷ USD, tăng 9,8% so với 7 tháng của năm trước. Xuất khẩu cà phê trong 7 tháng đạt 2,76 tỷ USD, tăng 6%; đặc biệt giá cà phê xuất khẩu bình quân đạt 2.540 USD/tấn, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

NGÀNH GỖ ĐÃ NHÌN THẤY TÍN HIỆU KHỞI SẮC

Gỗ là ngành xuất khẩu chủ lực, đóng góp lớn cho kim ngạch thương mại của Việt Nam, với kim ngạch mỗi năm trên dưới 15 tỷ USD. Trong bối cảnh thị trường Mỹ luôn chiếm 60-65% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ, thì bất kỳ một động thái nào từ thị trường này cũng ảnh hưởng rất lớn đến ngành gỗ Việt Nam.

Ngày 17/7/2023, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ban hành Phán quyết cuối cùng vụ việc điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp mặt hàng gỗ dán cứng nhập khẩu từ Việt Nam.

Theo đó, DOC đã xem xét lại 3 kịch bản trong số 5 kịch bản sản xuất lẩn tránh thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp. Hai kịch bản sản xuất bị DOC cho là lẩn tránh thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp bao gồm: Tấm mặt trước, sau và các tấm lõi riêng biệt được sản xuất ở Trung Quốc và được lắp ráp thành gỗ dán cứng tại Việt Nam; những tấm lõi riêng lẻ được sản xuất tại Trung Quốc và chế biến thành một tấm lõi ở Việt Nam và được kết hợp với một tấm mặt trước và/hoặc sau được sản xuất ở Việt Nam và quốc gia thứ ba khác.

DOC đã đưa 2 doanh nghiệp ra khỏi danh sách 22 doanh nghiệp thất bại trong trả lời bảng hỏi đó là Công ty CP An An Plywood và Công ty CP Greatwood Hưng Yên. Cùng với đó, 4 doanh nghiệp được xác định là hợp tác trong phán quyết sơ bộ.

Về kết quả xuất khẩu của nganh gỗ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho hay trong nửa đầu năm 2023, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chỉ đạt 6 tỷ USD, giảm 28,8% so với cùng kỳ năm 2022.

Trong tháng 7/2023, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt gần 1,1 tỷ USD, đưa kim ngạch 7 tháng lên 7,1 tỷ USD, vẫn giảm tới 25% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy vậy, con số kim ngạch của tháng 7/2023 đã gần ngang bằng với kim ngạch của tháng 7/2022 – cho thấy tín hiệu xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã phục hồi.

Trong nửa đầu năm nay, xuất khẩu gỗ giảm mạnh, khiến nhiều doanh nghiệp thiếu đơn hàng từ 20 - 50%. Nhưng đến thời điểm này, các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận được những đơn hàng mới.

Theo ông Huỳnh Quang Thanh - Giám đốc Công ty TNHH Hiệp Long, trong quý 3/2023, tình hình sẽ bình thường trở lại, nhưng để đơn hàng nhiều như năm 2022 sẽ khó. Những doanh nghiệp nào có thị trường rộng, và nhất là đi vào thị trường ngách sẽ tồn tại vững hơn.

Ông Lý Vĩnh Hùng, Giám đốc Công ty Gỗ nội thất Lyprodan, nhận định rằng thị trường đã bắt đáy và theo quy luật khi chạm đáy rồi sẽ từ từ lên. Do đó, dự báo năm 2024 xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sẽ phục hồi, vấn đề là nhanh hay chậm. Hiện, Công ty đã nhận được một số đơn hàng cho vụ mới, cũng đã có khách hỏi báo giá, mẫu đã có.

“Chúng tôi đang tiếp xúc với một số khách và tình hình đơn hàng 2024 khá khả thi, đó là cái mừng cho ngành gỗ. Có thể đến năm 2024 xuất khẩu gỗ sẽ phục hồi trở lại”, ông Lý Vĩnh Hùng nói.

Với những tín hiệu tốt trong tháng 7, ngành gỗ đang kỳ vọng 5 tháng cuối năm sẽ phục hồi tăng trưởng để kim ngạch xuất khẩu cả năm vẫn bằng với năm ngoái.

Nguồn: vneconomy

Cập nhật giá cà phê hôm nay 2/8/2023, giá cà phê trực tuyến, giá cà phê Tây Nguyên, cà phê Lâm Đồng, cà phê Kon Tum, cà phê nhân, cà phê Abrica hôm nay 2/8.

Giá cà phê trong nước ngày 2/8/2023, tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên bất ngờ tăng trở lại, giao động từ tăng từ 500 - 600 đồng/kg, mức giá cao nhất là 66.900 đồng/kg.

Cụ thể, giá cà phê nhân xô (cà phê nhân, cà phê nhân tươi) tại tỉnh Lâm Đồng ở các huyện như Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà, cà phê được thu mua với giá từ 66.100 - 66.200 đồng/kg.

Giá cà phê tại tỉnh Gia Lai, tỉnh Kon Tum giao động ở mức giá 66.600 đồng/kg.

Giá cà phê hôm nay tại tỉnh Đắk Lắk, hôm nay ở huyện Cư M'gar giá cà phê hiện ở mức 66.600 đồng/kg. Còn tại huyện Ea H'leo, thị xã Buôn Hồ được thu mua cùng mức 66.700 đồng/kg.

Tại tỉnh Đắk Nông, giá cà phê được thu mua với giá cao nhất là 66.900 đồng/kg.

Trên sàn giao dịch thế giới, giá cà phê Robusta trên sàn giao dịch London (Anh) ở phiên giao dịch gần nhất dao động từ 2.359 – 2.635 USD/tấn tùy kỳ hạn giao hàng.

Cụ thể, giá cà phê giao hàng tháng 9/2023 đạt 2.621 USD/tấn, giao cà phê tháng 11/2023 đạt 2.476 USD/tấn; giao cà phê tháng 01/2024 đạt 2.400 USD/tấn.

Giá cà phê Arabica trên sàn New York (Mỹ) ở phiên giao dịch gần nhất từ 158,15 – 165,9 cent/lb tùy kỳ hạn giao hàng.

So với phiên giao dịch gần đây nhất, giá cà phê thế giới cả hai sàn đều đảo chiều tăng trở lại, mức tăng khoảng từ 20 - 30 USD/ tấn đối với cà phê Robusta, mức tăng từ 1- 3 cent/lb đối với cà phê Arabica.

Theo các chuyên gia, giá cà phê thế giới tăng trở lại có thể đất nước Uganda đang phải đối mặt với những tác động đáng kể của biến đổi khí hậu; tăng tần suất các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như lũ lụt, giảm mực nước, thay đổi kiểu thời tiết, cũng như hạn hán, những ảnh hưởng kinh tế xã hội khiến các cộng đồng nông nghiệp rất dễ bị tổn thương, trong đó có việc sản lượng cà phê sẽ bị giảm sút. Theo các nhà nghiên cứu, biến đổi khí hậu toàn cầu chỉ ra rằng áp lực khí hậu có thể làm giảm đến 50% diện tích phù hợp để trồng cây cà phê, đặc biệt là cà phê arabica trên toàn cầu.

Bên cạnh đó, ciá cà phê hai sàn phái sinh hồi phục và tăng trở lại do các quỹ và đầu cơ quay lại các thị trường tăng mua sau khi đã mạnh tay thanh lý các vị thế ròng vào tuần trước nhằm tránh né áp lực của lãi suất tiền tệ đang được các ngân hàng trung ương xem xét điều chỉnh theo hướng tăng, kèm theo là áp lực bán hàng vụ mới không thể tránh khỏi từ nhà sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới.

Số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, 7 tháng đầu năm 2023, số lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam ước đạt 80.000 tấn (khoảng 1,33 triệu bao), giảm 32,1% so với tháng trước và giảm 6% so với cùng kỳ năm trước. Điều này đã khiến các thị trường tiêu thụ quay lại mối lo thiếu hụt nguồn cung, trong khi nhu cầu tiêu thụ cà phê Robusta của thế giới ngày tăng cao.

Nguồn: Tuấn Mỹ - Báo Công Thương

Page 48 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]