Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Để đáp ứng nhu cầu về gạo ước đạt trên 42,2 triệu tấn trong năm 2023, châu Phi dự kiến nhập khẩu khoảng 17,7 triệu tấn gạo.
Theo Vụ Thị trường châu Á, châu Phi - Bộ Công Thương, năm 2023, theo dự báo của USDA, sản lượng gạo của châu Phi trong niên vụ 2022/2023 dự báo đạt 24,3 triệu tấn, tăng 1,7% so với niên vụ 2021/2022; trong đó khu vực Bắc Phi ước đạt 3,6 triệu tấn, tăng 23,7% và khu vực châu Phi hạ Sahara ước đạt 20,7 triệu tấn, giảm 1,2%.
USA cũng ước tính sản lượng gạo tiêu thụ và dự trữ toàn châu Phi trong năm 2023 đạt trên 42,2 triệu tấn, tăng hơn 570 ngàn tấn so với năm 2022, trong đó: Khu vực Bắc Phi đạt khoảng 4,4 triệu tấn, tăng 50 ngàn tấn; Khu vực châu Phi hạ Sahara đạt khoảng 37,5 triệu tấn, tăng 300 ngàn tấn.
Trong nhiều năm qua, mặc dù diện tích gieo cấy lúa tại châu Phi đã được mở rộng nhưng sản lượng gạo sau thu hoạch tại các nước thuộc châu lục vẫn ở mức thấp so với thế giới và bị hạn chế bởi một số yếu tố như: giống lúa chất lượng thấp, ít cải tiến, điều kiện thời tiết diễn biến thất thường, cơ sở hạ tầng canh tác nông nghiệp kém phát triển, nguồn lực hạn chế, dịch hại, quy trình sản xuất, thu hoạch, chế biến và bảo quản yếu kém... Nhìn chung, sản xuất gạo của châu Phi dự báo sẽ chưa bắt kịp được mức tăng trưởng về nhu cầu tiêu thụ gạo của người dân và gia tăng dân số của khu vực.
Gạo nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực của châu Phi, bất chấp những nỗ lực hướng đến khả năng tự cung tự cấp của nhiều nước. Để đáp ứng nhu cầu về gạo ước đạt trên 42,2 triệu tấn trong năm 2023, châu Phi dự kiến nhập khẩu khoảng 17,7 triệu tấn, giảm 4,5%. Nguyên nhân giảm nhập khẩu là do từ nửa cuối năm 2022, nhiều nước tại châu lục đã chủ động nhập khẩu gạo để dự trữ, phòng trường hợp giá lương thực lại tiếp tục tăng do hệ lụy từ xung đột Nga – Ukraine kéo dài.
Trong thời gian tới, nguồn cung cấp gạo chính của châu Phi vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào các nước Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan và Việt Nam. Chủng loại gạo nhập khẩu chính của các nước châu Phi bao gồm gạo thơm, gạo trắng và gạo tấm.
Theo Bộ Công Thương, Việt Nam xuất khẩu gạo sang 54 quốc gia châu Phi với khối lượng đạt trên 600 nghìn tấn, trong đó, các thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất gồm Ghana, Bờ Biển Ngà, Senegal, Mozambique, Cameroon, Gabon, Tanzania, Ai Cập…
Thị hiếu tiêu thụ gạo của thị trường châu Phi: Gạo hạt dài, khi nấu rời hạt (không dính), gạo đồ, gạo thơm, trong khi với Ghana, Senegal, người dân lại thích gạo cứng.
Đối với thị trường châu Phi, định hướng phát triển thị trường của Việt Nam là củng cố thị phần các loại gạo trắng, hạt dài, rời hạt, gạo cứng, gạo đồ, gạo thơm… Đồng thời đáp ứng nhu cầu của thị trường này bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh về giá, chất lượng và các điều kiện thanh toán, giao thương tại các nước châu Phi.
Giá cà phê hôm nay, ngày 29/5 ở thị trường trong nước dao động từ 60.500 – 61.100 đồng/kg, giá cà phê thế giới duy trì đi ngang so với tuần trước.
Nhìn lại giá cà phê tuần qua: Giá cà phê trong nước lập đỉnh mới
Thông tin đáng chú ý trong tuần qua trong giao dịch hàng hóa được quan tâm nhiều nhất có lẽ là giá cà phê trong nước khi liên tục lập đỉnh mới cao nhất trong 15 năm trở lại đây khi cán mốc 61.300 đồng/kg. Thậm chí, theo một số công ty có thời điểm trong ngày giá thu mua có thể vọt lên 64.000 đồng/kg nhân xô (số ít, cục bộ, giá trung bình vẫn khoảng 61.300 đồng/kg).
Theo các chuyên gia và một số doanh nghiệp, giá cà phê trong nước tăng vọt do thiếu hụt nguồn cung Robusta trong ngắn hạn. Hiện cà phê trữ trong dân còn rất ít, trong khi doanh nghiệp thu mua đến đâu xuất khẩu đến đó.
Như vậy, so với đầu năm 2023 (giá cà phê trung bình khoảng trên dưới 40.000 đồng/kg) thì giá cà phê trong nước đã tăng khoảng hơn 50%.
Giá cà phê liên tục lập đỉnh, nhiều tỉnh tại Tây Nguyên lại lo ngại tình trạng người dân ồ ạt quay trở lại trồng cà phê và các nguy cơ về vướng tiêu chuẩn xanh của EU (EU cấm nhập khẩu các nông sản thúc đẩy nguy cơ phá rừng) trong xuất khẩu cà phê.
Ở thị trường thế giới, giá cà phê Robusta cũng có thời điểm đạt hơn 2.600 USD/tấn cho kỳ hạn giao hàng tháng 7/2023. Trong khi giá cà phê Arabica về cơ bản đi ngang không có quá nhiều biến động.
Nhìn lại giá cà phê tuần qua: Giá cà phê trong nước lập đỉnh mới
Thông tin đáng chú ý trong tuần qua trong giao dịch hàng hóa được quan tâm nhiều nhất có lẽ là giá cà phê trong nước khi liên tục lập đỉnh mới cao nhất trong 15 năm trở lại đây khi cán mốc 61.300 đồng/kg. Thậm chí, theo một số công ty có thời điểm trong ngày giá thu mua có thể vọt lên 64.000 đồng/kg nhân xô (số ít, cục bộ, giá trung bình vẫn khoảng 61.300 đồng/kg).
Theo các chuyên gia và một số doanh nghiệp, giá cà phê trong nước tăng vọt do thiếu hụt nguồn cung Robusta trong ngắn hạn. Hiện cà phê trữ trong dân còn rất ít, trong khi doanh nghiệp thu mua đến đâu xuất khẩu đến đó.
Như vậy, so với đầu năm 2023 (giá cà phê trung bình khoảng trên dưới 40.000 đồng/kg) thì giá cà phê trong nước đã tăng khoảng hơn 50%.
Giá cà phê liên tục lập đỉnh, nhiều tỉnh tại Tây Nguyên lại lo ngại tình trạng người dân ồ ạt quay trở lại trồng cà phê và các nguy cơ về vướng tiêu chuẩn xanh của EU (EU cấm nhập khẩu các nông sản thúc đẩy nguy cơ phá rừng) trong xuất khẩu cà phê.
Ở thị trường thế giới, giá cà phê Robusta cũng có thời điểm đạt hơn 2.600 USD/tấn cho kỳ hạn giao hàng tháng 7/2023. Trong khi giá cà phê Arabica về cơ bản đi ngang không có quá nhiều biến động.
Nguồn: Báo Công Thương
Giá tiêu hôm nay 29/5 ổn định. Đây cũng là giai đoạn giá tiêu duy trì mức giảm nhẹ trong 2 tuần qua. Lực mua yếu do trị giá đồng USD tăng cao.
Tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông giá tiêu hôm nay 29/5 được thu mua với mức 73.000 đồng/kg, bằng giá so với ngày hôm qua. Tại tỉnh Gia Lai, giá tiêu hôm nay cũng giữ nguyên ở mức 71.500 đồng/kg.
Tại Đồng Nai, giá tiêu hôm nay ở mức 70.500 đồng/kg. Tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 74.000 đồng/kg. Còn tại tỉnh Bình Phước giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 72.500 đồng/kg.
Tổng kết tuần này, giá tiêu trong nước giảm trung bình khoảng 1.000 - 1.500 đồng/kg.
Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 3.592 USD/tấn, giảm 0,03%; giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 2.950 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA giữ mức 4.900 USD/tấn.
Ở trong nước, theo đánh giá của các doanh nghiệp thu mua kho xuất nhập khẩu đã đầy hàng dự trữ nên họ tạm ngừng mua. Trong khi đó, các đại gia đầu cơ dường như đã mua đủ hàng. Lực mua yếu trong bối cảnh đồng USD tăng cao đẩy thị trường tiêu trong nước vào xu hướng giảm giá nhẹ kéo dài.
Điểm tích cực trong tuần là hoạt hoạt động xuất khẩu tiêu ổn định. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam.
Bảng giá tiêu hôm nay 29/5/2023
|
Địa phương |
ĐVT |
Giá mua của thương lái (đồng) |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
kg |
71.500 |
- |
|
Đắk Lắk |
kg |
73.000 |
- |
|
Đắk Nông |
kg |
73.000 |
- |
|
Bình Phước |
kg |
72.500 |
- |
|
Đồng Nai |
kg |
70.500 |
- |
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
kg |
74.000 |
- |
Thanh Thanh (Báo Công Thương)
Giá tiêu hôm nay ngày 22/5 tiếp tục giữ nhịp bằng giá ngày hôm qua tại khu vực Đông Nam bộ và cả khu vực Tây Nguyên.
Cụ thể, tại Bà Rịa Vũng Tàu, giá tiêu hôm nay được thương lái thu mua ở mức 76.000 đồng/kg bằng giá ngày hôm qua. Tại Bình Phước giá tiêu hôm nay giữ ở mức 75.500 đồng/kg cũng bằng giá ngày hôm qua 21/5.
Tại khu vực Tây Nguyên, giá tiêu hôm nay được thương lái thu mua ổn định với giá trung bình 73.000 - 74.500 đồng/kg.
Tại Gia Lai, thu mua ở mức 73.000 đồng/kg bằng giá ngày hôm qua 21/5. Tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, giá tiêu hôm nay ổn định ở mức 74.500 đồng/kg cũng giữ giá đi ngang.
Nhìn chung, trong tuần qua giá tiêu tại khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên giữ đà giảm giá nhẹ trong những ngày đầu tuần và bước sang những ngày cuối tuần thì giữ đà đi ngang. Hiện giá tiêu trong nước dao động quang mốc 73.500 - 76.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết mức giá tăng với tiêu Indonesia. Theo đó, giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 3.628 USD/tấn, tăng 0,03%; Giá tiêu trắng Muntok 6.171 USD/tấn, tăng 0,02%. Với các quốc gia còn lại, giá tiêu đi ngang. Cụ thể, giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 2.950 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA giữ mức 4.900 USD/tấn; giá tiêu trắng Malaysia ASTA vẫn ở 7.300 USD/tấn.
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) đánh giá tình hình suy thoái kinh tế có thể khiến người tiêu dùng trên thế giới thắt chặt chi tiêu, giảm ăn uống tại các hàng quán từ đó khiến cho lượng tiêu thụ tiêu cũng sẽ giảm theo. Tuy nhiên, VPSA cho rằng về dài hạn, giá tiêu vẫn có thể tăng. Thông thường, chu kỳ biến động của giá tiêu sẽ mất khoảng 7 - 10 năm. Trong đó, chu kỳ giảm giá của cây tiêu Việt Nam bắt đầu từ năm 2016 đến nay đã là 7 năm và sẽ sớm có sự điều chỉnh lên trở lại.
Bảng giá tiêu hôm nay 22/5 (Đơn vị: đ/kg)
|
Tỉnh thành |
Giá cả |
Biến động |
|
Đắk Lắk |
74.500 |
- |
|
Đắk Nông |
74.500 |
- |
|
Gia Lai |
73.000 |
- |
|
Đồng Nai |
73.500 |
- |
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
76.000 |
- |
|
Bình Phước |
75.500 |
- |
Nguồn: Báo Công Thương Online
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "