PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), toàn cầu ghi nhận thêm hơn 2,729 triệu ca mắc và 17.112 ca tử vong do COVID-19 trong 28 ngày qua, trong đó mức tăng mạnh ghi nhận ở phần lớn châu Á.

Theo báo cáo Người Lao Động nhận được từ WHO sáng 12-5, Tây Thái Bình Dương - khu vực dịch tễ mà tổ chức này xếp Việt Nam vào - dẫn đầu về số ca mắc mới với hơn 975.000 ca, tăng tới 35% so với chu kỳ trước.

Nguyên nhân chủ yếu do mức gia tăng ở các quốc gia ven Thái Bình Dương, vốn vừa "đảo chiều" sau chu kỳ sụt giảm vài tuần trước. Có 30% các quốc gia khu vực này báo cáo mức tăng mạnh trên 20%, trong đó cao nhất là Việt Nam, Mông Cổ và Lào.

Trong khi đó, 3 quốc gia có số ca mắc nhiều nhất là Hàn Quốc (361.691 ca), Nhật Bản (262.145 ca) và Úc (114.460 ca). Đây cũng là 3 quốc gia có số tử vong nhiều nhất. Tuy nhiên xét chung thì với 1.387 ca tử vong mới cho cả khu vực, xu thế giảm sâu về tử vong vẫn tiếp tục (giảm 33%).

Việt Nam báo cáo 46.230 ca trong 28 ngày, tăng 6.862%, tuy nhiên mức tăng khủng này chủ yếu do chu kỳ 28 ngày trước đó báo cáo chỉ 664 ca.

Châu Âu và châu Mỹ báo cáo lần lượt hơn 800.000 và hơn 647.000 ca mắc COVID-19 mới, giảm sâu 38% và 35% so với chu kỳ trước đó. Tuy nhiên hai khu vực này lại có số ca tử vong cao, lần lượt là 6.345 và 7.483 ca.

Đông Nam Á báo cáo số ca hạn chế so với mức tăng toàn khu vực, có thể do độ phổ biến của xét nghiệm kém hơn so với các khu vực kia: 258.500 ca mắc mới, tăng 223%. Khu vực dịch tễ này bao gồm Nam Á và một phần Đông Nam Á địa lý.

91% số quốc gia trong khu vực dịch tễ Đông Nam Á báo cáo mức tăng trên 20%, cao nhất là Myanmar (tăng 1.252%), Thái Lan (tăng 659%).

Ba quốc gia nhiều ca mắc nhất là Ấn Độ (tăng 222%), Indonesia (tăng 199%), Thái Lan, cũng là 3 quốc gia có số ca tử vong do COVID-19 cao nhất khu vực. Tuy nhiên Thái Lan chỉ có 27 ca tử vong; trong khi Ấn Độ và Indonesia chiếm hầu hết số tử vong của khu vực dịch tễ này, lần lượt là 715 và 407 ca.

Hai khu vực dịch tễ còn lại là Đông Địa Trung Hải và châu Phi báo cáo số ca hạn chế. Trong đó, Đông Địa Trung Hải, vốn bao gồm Tây Á địa lý là khu vực có số ca tăng mạnh trước đó, đang thể hiện xu hướng "hạ nhiệt".

Nguồn: Báo Người Lao Động online

Trong quý I, giá cà phê robusta giao trong tháng 5 tăng mạnh 14% lên 2.206 USD/tấn. Giá cà phê tăng trong bối cảnh thị trường lo ngại thiếu hụt nguồn cung trong ngắn hạn. Theo ICO, thị trường cà phê toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục thâm hụt trong năm thứ hai liên tiếp, với mức thâm hụt 7,3 triệu bao trong niên vụ 2022-2023.

- Trong báo cáo mới nhất từ Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO), sản lượng cà phê toàn cầu dự kiến sẽ phục hồi và tăng 1,7% lên mức 171,3 triệu bao trong niên vụ 2022-2023. Chủ yếu do sản lượng của Brazil, nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới tăng theo chu kỳ hai năm một, mặc dù giá phân bón tăng cao và điều kiện thời tiết bất lợi tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất cà phê toàn cầu.

ICO dự báo tăng trưởng tiêu thụ cà phê toàn cầu sẽ chậm lại trong niên vụ 2022-2023, với mức tăng 1,7% lên 178,5 triệu bao. Trong đó, tiêu thụ cà phê của châu Âu được dự báo chỉ tăng 0,1% trong niên vụ 2022-2023 sau khi tăng 6% trong niên vụ trước.

Mặc dù vậy, thị trường cà phê toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục thâm hụt trong năm thứ hai liên tiếp, với mức thâm hụt 7,3 triệu bao trong niên vụ 2022-2023.

Trong quý I, giá cà phê giao trong tháng 5 tăng mạnh 14% lên 2.206 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 5 cũng tăng 2,5% lên 170 US Cent/pound. Giá cà phê tăng trong bối cảnh thị trường lo ngại thiếu hụt nguồn cung trong ngắn hạn.

Chúng tôi dự báo giá cà phê tiếp tục tăng trong thời gian với nhiều khả năng vượt đỉnh cũ bởi những thông tin thiếu hụt nguồn cung so với nhu cầu. Tuy nhiên, trong ngắn và trung hạn, đà tăng giá có thể bị cản trở do những yếu tố vĩ mô không thuận lợi. Tăng trưởng kinh tế thế giới được các tổ chức quốc tế dự báo không mấy khả quan trong năm nay.

Tại Việt Nam, tính đến hết quý I xuất khẩu cà phê đã giảm 5% về lượng và giảm 5,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022, đạt 552.613 tấn, trị giá 1,2 tỷ USD.

Giá cà phê nội địa trong quý I tăng khoảng 25% so với thời điểm cuối năm 2022 và tăng khoảng 17% so với cùng kỳ năm ngoái lên khoảng 48.600 - 49.000 đồng/kg.

Nguyên nhân của việc giá cà phê trong nước ở mức cao trong khi xuất khẩu giảm là do doanh nghiệp khó khăn trong mua hàng. Hiện tại, việc thu hoạch đã hoàn tất tuy nhiên người dân vẫn giữ hàng không bán ra, chờ giá lên cao khiến doanh nghiệp không thể mua. 

 - Trong năm 2023, một số công ty xuất khẩu cà phê đặt mục tiêu doanh thu tăng mạnh trong bối cảnh giá cà phê đang trong đà phục hồi.

Nguồn: Vietnambiz

Giá đóng cửa 2 sàn cà phê phái sinh 11/5/23

London tháng 7 & 9/23

2393-88(2500/2386)

2372-88(2478/2367)

New York tháng 7 & 9/23

183-2.95(186.55/182.3)

180.85-2.85(184.25/180.2)

Thông số ảnh hưởng giá cà phê

-Giá cách biệt 2 sàn arabica với robusta 07/23: 74,45 vs 73,41 cts/lb.

-Chỉ số DXY: 101,89 vs 101,23 điểm.

-Giá trị đồng nội tệ Reais Brazil (Brl) trong cặp tỷ giá UsdBrl:  4,95 vs 4,95. Mức thấp kỷ lục 5,99 Brl lập 8/5/2020!

Lời bàn về thị trường:

-Giá hai sàn kỳ hạn cà phê cùng rớt, robusta rớt về dưới 2400 để đóng cửa tại 2393 USD/tấn, giá arabica cũng rớt nhưng nhẹ hơn để nằm khu vực thấp 183 cts/lb.

-Giá cà phê rớt mạnh thế này sau một thời gian tích tụ dư mua là chuyện bình thường và đôi khi đó là chuyện hay. Sàn arabica có tồn kho đạt chuẩn giảm nhưng giá cũng giảm. Cho nên, biết nhìn đường lên thì cũng nên thấy trước đường xuống. Phiên hôm qua là một bước ngoặc của thị trường hàng hóa nói chung, cà phê robusta nói riêng. Sàn London và những người chơi trên sàn tài chính này đang lo Fed chưa dừng tăng lãi suất cho đến năm 2024 (xem thêm phía dưới). Điều này thực sự đáng ngại hơn là thiếu cà phê cung ứng từ đâu đó.

-Thông báo ngày hôm qua về lạm phát của Mỹ giảm nhẹ không thực sự kích thích thị trường… Nói cách khác, lạm phát của Mỹ giảm nhẹ trong tháng 4/23 đã không làm tăng hy vọng Fed Liên bang phá vỡ chiến dịch tăng lãi suất của họ. Một bằng chứng về sự hoài nghi từ phía các nhà đầu tư đang yêu cầu nhiều hơn để dự đoán lãi suất sẽ giảm trong năm 2024.

Sự sụp đổ của ngân hàng Mỹ Pacwest, giá trị cổ phiếu hôm qua có lúc -24% và -80% kể từ ngày 1 tháng 1/2023 làm dấy lên lo ngại về một cuộc khủng hoảng tài chính rộng lớn hơn. Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, chỉ số giá sản xuất của Hoa Kỳ tiến triển kém hơn dự kiến trong tháng 4/23 (+0,2% so với +0,3%).

-Brazil: Xuất khẩu cà phê tháng 4/23 đạt 2,72 triệu bao, giảm 11,9% so với tháng 3/23 và giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2022.

–Dự kiến giá cà phê nguyên liệu tại Tây Nguyên hôm nay 51,5-52,2 triệu đồng/tấn giảm so với hôm trước là 53,5-54,2 triệu đồng/tấn.

NGUYỄN QUANG BÌNH

Giá tiêu hôm nay (12/5) đồng loạt tăng tại các tỉnh trọng điểm trong nước. Hiện tại, Bà Rịa - Vũng Tàu đang là địa phương có mức giá cao nhất với 77.000 đồng/kg. Đối với cao su, giá kỳ hạn giảm với biên độ hơn 2% trong phiên sáng nay.

Giá tiêu trong nước

Theo khảo sát, giá tiêu tại thị trường nội địa được điều chỉnh tăng đồng loạt 1.000 đồng/kg so với hôm qua.

Cụ thể, hai tỉnh Gia Lai và Đồng Nai đang ghi nhận mức giá lần lượt là 74.000 đồng/kg và 74.500 đồng/kg.

Hồ tiêu tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông vẫn được thu mua với chung mức giá là 75.000 đồng/kg.

giá tiêu hôm nay tại Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu lần lượt neo tại mức 76.500 đồng/kg và 77.000 đồng/kg.

Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua (Đơn vị: đồng/kg)

Thay đổi so với hôm qua (Đơn vị: đồng/kg)

Đắk Lắk

75.000

+1.000

Gia Lai

74.000

+1.000

Đắk Nông

75.000

+1.000

Bà Rịa - Vũng Tàu

77.000

+1.000

Bình Phước

76.500

+1.000

Đồng Nai

74.500

+1.000

Giá tiêu thế giới

Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) ngày 11/5 (theo giờ địa phương), giá tiêu thế giới so với ngày 10/5 như sau:

- Tiêu đen Lampung (Indonesia): ở mức 3.572 USD/tấn, tăng 0,17%

- Tiêu đen Brazil ASTA 570: ở mức 2.950 USD/tấn, không đổi

- Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA: ở mức 4.900 USD/tấn, không đổi

Tên loại

Bảng giá tiêu đen thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 10/5

Ngày 11/5

% thay đổi

Tiêu đen Lampung (Indonesia)

3.566

3.572

0,17

Tiêu đen Brazil ASTA 570

2.950

2.950

0

Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA

4.900

4.900

0

- Tiêu trắng Muntok: ở mức 6.056 USD/tấn, tăng 0,17%

- Tiêu trắng Malaysia ASTA: ở mức 7.300 USD/tấn, không đổi

Tên loại

Bảng giá tiêu trắng thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 10/5

Ngày 11/5

% thay đổi

Tiêu trắng Muntok

6.046

6.056

0,17

Tiêu trắng Malaysia ASTA

7.300

7.300

0

Theo báo cáo tháng 4/2023 của Nedspice Group, vụ thu hoạch tại Việt Nam đã gần kết thúc, trong khi Campuchia đang vào giai đoạn cao điểm.

Ngoài ra, vụ thu hoạch ở Indonesia, Malaysia và miền Nam Brazil sẽ diễn ra trong 3 - 4 tháng tới.

Nedspice cho biết, sản lượng của Việt Nam năm nay lớn hơn năm ngoái, nhưng triển vọng trong những năm tới lại không mấy khả quan.

Theo ghi nhận, hầu như không có diện tích trồng mới nào trong những năm gần đây ở Việt Nam khi nông dân đang chuyển hướng sang các loại cây trồng khác cho thu nhập tốt hơn như sầu riêng, chanh leo và cà phê 

Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại các quốc gia khác, dẫn đến sản xuất toàn cầu tiếp tục thấp hơn nhu cầu, tồn kho tại các nước trọng điểm giảm.

Ghi nhận trong ba tháng đầu năm cho thấy, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 76 nghìn tấn tiêu, tăng 43,4% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, riêng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 25.919 tấn, tăng đột biến hơn 12 lần.

Theo Nedspice, những con số này cho thấy một phần đáng kể của vụ mùa khoảng 185 nghìn tấn đã được bán.
Nguồn: vietnambiz

Page 56 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]