Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá đóng cửa 2 sàn cà phê phái sinh 03/10/22
London tháng 11/22 và 1/23
2173+20(2181/2150)
2163+17(2168/2143)
New York tháng 12/22 và 03/23
215.75-5.8(222.65/214.75)
207.35-5.2(213.5/206.5)
Thông số ảnh hưởng giá cà phê
-Giá cách biệt 2 sàn arabica 12/22 với robusta 11/22: 109.23 vs 115,21 cts/lb.
-Chỉ số DXY: 111,55 vs 112,16 (đỉnh trong kỳ 114.74) .
-Giá trị đồng nội tệ Reais Brazil (Brl) trong cặp tỷ giá UsdBrl: 5,16 vs 5,41 . Mức thấp kỷ lục 5,99 Brl lập 8/5/2020!
Lời bàn về thị trường:
-Tin đáng quan tâm bậc nhất những ngày đầu vụ cà phê mới 22/23 là hợp đồng đường dài giá cước tàu biển containers giảm ngay cuối tháng 9/22 sau khi tăng phi mã trong thời đại dịch Covid-19. Cước từ Thượng Hải (TQ) đến Los Angeles (Mỹ) giảm hơn 70% tính từ đỉnh lập tháng 9/21 do nhu cầu nhập hàng vào Mỹ giảm và tình trạng ứ đọng hàng hóa tại các kho có phần dễ thở hơn. Tuy vậy, giá cước hiện nay vẫn cao hơn trước tời đại dịch đến 112%. Dù sao thì nghe cước tàu containers giảm, người mua cước cũng cảm thấy nhẹ nhàng hơn.
-Trung Quốc đang bị rắc rối vì nợ. Rõ ràng TQ là nước cho vay lớn nhất thế giới đối với các nước phát triển. Nhưng TQ sẽ gia nhập Câu lạc bộ Paris để giảm hay giãn nợ cho các nước đi vay như trường hợp Zambia chẳng hạn. Ngoài Zambia, còn có các nước như Sri Lanca, Ethiopia, Pakistan, Ghana, Ai Cập…là những con nợ của Trung Quốc, đang chờ TQ giảm hay giãn nợ cho họ.
-Giá cà phê đóng cửa có kết quả nghịch chiều. London tăng tốt nhưng New York giảm sâu.
-Tin mưa rất thuận cho vụ mùa tới tại Brazil đã quét giá arabica đi một cách thương tâm. Đồng BRL được giá trở lại nhưng cũng chẳng giúp gì cho giá arabica.
-Dự kiến giá cà phê nội dịa hôm nay quanh mức 47,4 triệu đồng/tấn, so với hôm qua 47 triệu đồng/tấn. Giá tiêu đen tại Tây Nguyên quanh mức 65-70 triệu đồng/tấn.
Nguồn: NGUYỄN QUANG BÌNH
Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, xuất khẩu nông lâm thủy sản trong 9 tháng năm 2022 đạt 40,8 tỷ USD; Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản là những thị trường mua nông sản của Việt Nam nhiều nhất.
Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ NNPTNT, Thứ trưởng Bộ NNPTNT Phùng Đức Tiến thông tin, 9 tháng năm 2022, xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt khoảng 40,8 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu nhóm nông sản chính trên 16,8 tỷ USD; lâm sản chính khoảng 13,3 tỷ USD; thủy sản trên 8, 5 tỷ USD.
Đến nay, có 7 sản phẩm, nhóm sản phẩm đạt giá trị xuất khẩu trên 2 tỷ USD, gồm cà phê, cao su, gạo, rau quả, điều, tôm, sản phẩm gỗ.
Đáng chú ý, có nhiều mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu cao hơn cùng kỳ năm trước như: Cà phê gần 3,1 tỷ USD, tăng 37,6%; cao su trên 2,3 tỷ USD, tăng 7,7%; sắn và sản phẩm từ sắn trên 1 tỷ USD; cá tra trên 1,9 tỷ USD, tăng 83,3%; tôm gần 3,5 tỷ USD, tăng 24,8%.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 10,5 tỷ USD, chiếm 25,8% thị phần; đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc khoảng 7,4 tỷ USD, chiếm 18,2% thị phần; thứ 3 là thị trường Nhật Bản, đạt 3,1 tỷ USD; thứ tư là thị trường Hàn Quốc.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng, kết quả của ngành nông nghiệp trong 9 tháng đầu năm đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô.
Năm 2022, Bộ NNPTNT đặt mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 55 tỷ USD (cao hơn Chính phủ giao).
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, để đạt được mục tiêu này, Bộ NNPTNT sẽ tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, hướng dẫn, định hướng các địa phương nhất là các vùng trọng điểm về sản xuất lúa gạo, chăn nuôi, thủy sản có kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Bên cạnh việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc tế, mở cửa thị trường, ở thị trường trong nước tập trung phát triển đa dạng các kênh tiêu thụ lương thực, thực phẩm; bảo đảm nguồn cung và ổn định giá thực phẩm, giá thịt lợn để góp phần giữ chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong ngưỡng cho phép, nhất là dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023.
"Bộ NNPTNT sẽ tăng cường các giải pháp về thị trường để bảo đảm mục tiêu mà Thủ tướng Chính phủ giao cho ngành nông nghiệp trong năm nay", Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định.
"Từ nay đến cuối năm còn 3 tháng, về xuất khẩu còn nhiều khó khăn do đơn hàng giảm nhiều, dấu hiệu tồn kho còn, sức mua giảm. Tuy nhiên, với mục tiêu đạt trên 50 tỷ USD thì chúng ta sẽ hết sức phấn đấu, cố gắng thông qua các giải pháp về thị trường để bảo đảm mục tiêu đề ra", Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nói.
Nguồn: Báo Dân Việt online
Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) Trần Quốc Phương, nếu diễn biến kinh tế thuận lợi, không có đột biến, tốc độ tăng trưởng GDP cả năm của cả nước dự kiến đạt khoảng 8%.
Tại buổi họp báo thường kỳ của Văn phòng Chính phủ tháng 9 vào chiều 1/10, Thứ trưởng Bộ KHĐT cho hay, kết quả tăng trưởng GDP là tổng hòa của rất nhiều nguyên nhân, từ tác động của tăng trưởng kinh tế các ngành, các cấp, các lĩnh vực, các địa phương, các chủ thể kinh tế…
Vì thế, Bộ KHĐT đã đưa ra các kịch bản tăng trưởng của GDP nước ta trong quý 4 cũng như cả năm 2022, với 2 kịch bản.
Kịch bản thấp là dự kiến trong quý 4, tình hình kinh tế được đánh giá là vẫn còn nhiều khó khăn, khó đoán định, nên Bộ KHĐT đã đưa ra phương án thấp là tăng trưởng đạt 7,5%. Với kịch bản là trong bối cảnh diễn biến như hiện nay, không có đột biến, thuận lợi đối với nền kinh tế từ bên ngoài, Bộ KHĐT dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP cả năm khoảng 8%.
Về triển vọng kinh tế 2023, Thứ trưởng Bộ KHĐT nhận định, bối cảnh tình hình năm 2023 vẫn là khó khăn, thách thức, thuận lợi đan xen, nhưng khó khăn nhiều hơn và thậm chí còn khó hơn.
Thứ nhất là vấn đề sức ép lạm phát và tăng trưởng của kinh tế thế giới trong năm 2023 là vô cùng khó khăn. Vấn đề lạm phát toàn cầu, đặc biệt là lạm phát của các nền kinh tế lớn, các đối tác của nước ta khó có thể kết thúc trong 1-2 tháng tới và có thể kéo dài thêm và chắc chắn sẽ sang năm 2023. Do đó, các chính sách kiểm soát lạm phát mang tính cường độ rất cao của các nền kinh tế lớn rất dễ dẫn tới suy thoái kinh tế, nên thời gian phục hồi sẽ lâu hơn. Do vậy, Bộ KHĐT dự báo bối cảnh tình hình kinh tế thế giới 2023 rất khó khăn.
Thứ hai, chúng ta cần hết sức lưu ý là xung đột Nga– Ukraine hiện nay chưa có dấu hiệu kết thúc. Cuộc xung đột này kéo theo một vấn đề rất lo ngại là năng lượng, bởi sẽ quyết định rất nhiều đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu, trong đó có nước ta. Căng thẳng này nếu đẩy lên một mức độ cao hơn nữa có thể sẽ dẫn tới các hệ lụy vô cùng khó cho an ninh năng lượng, an ninh lương thực, nguồn cung hàng hóa.
Và nguy cơ cuối cùng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế năm 2023 là tác động của các vấn đề nguy cơ phi truyền thống như bão lũ, dịch bệnh.
Cũng tại buổi họp báo, về số liệu giải ngân vốn đầu tư công, Thứ trưởng Bộ KHĐT cho biết, trong báo cáo gửi Chính phủ, Bộ KHĐT đã nêu rõ tỷ lệ giải ngân đạt 46,7% tổng số kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao, tuy có thấp hơn so với cùng kỳ năm trước về tỷ lệ %, khi tỷ lệ này năm ngoái là 47,38%, nhưng số tuyệt đối cao hơn năm trước là gần 35 nghìn tỷ đồng.
Theo đại diện lãnh đọa Bộ KHĐT, nguyên nhân chính là do tổng lượng vốn đầu tư công năm 2022 nhiều hơn tổng lượng vốn đầu tư công năm 2021 nên tỷ trọng % có thể thấp hơn một chút, nhưng hệ số tuyệt đối về vốn thì cao hơn, dẫn đến kết quả là vốn đầu tư công giải ngân năm 2022 cao hơn về số tuyệt đối so với năm 2021 là 16%.
Nguồn: Haiquanonline
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA) bước sang năm thứ 2 thực thi đang hỗ trợ ngành cà phê Việt Nam mở rộng thị phần tại Anh.
Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê sang thị trường Anh đang tận dụng hiệu quả hiệp định thương mại tự do song phương. 8 tháng đầu năm 2022, xuất khẩu cà phê sang thị trường Anh đạt 34,68 nghìn tấn, trị giá 70,68 triệu USD, tăng 57,9% về lượng và tăng 84,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021.
Không chỉ tăng mạnh về lượng, giá cà phê xuất đi Anh cũng được cải thiện mạnh. 8 tháng qua, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam sang Anh đạt 2.038 USD/tấn, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2021.
Việt Nam xuất khẩu 3 chủng loại cà phê sang Anh gồm: cà phê Robusta, Arabica và cà phê chế biến. Trong đó, xuất khẩu cà phê Robusta sang Anh đạt trên 31.000 tấn, trị giá 61 triệu USD, tăng 80,7% về lượng và tăng 117,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021; xuất khẩu cà phê Arabica đạt 162 tấn, trị giá 701.000 USD, tăng 1.295,9% về lượng và tăng 1.199% về trị giá; xuất khẩu cà phê chế biến đạt 4,16 triệu USD, tăng 12,3%.
Số liệu thống kê từ ITC, tháng 6/2022, Anh nhập khẩu cà phê đạt 20,47 nghìn tấn, trị giá 110 triệu USD, giảm 13,3% về lượng và giảm 5,6% về trị giá so với tháng 5/2022, nhưng so với tháng 6/2021 tăng 18,8% về lượng và tăng 44,2% về trị giá.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, Anh nhập khẩu cà phê đạt gần 136 nghìn tấn, trị giá 716,27 triệu USD, tăng 35,3% về lượng và tăng 67,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021.
Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Anh tăng mạnh từ 16,33% trong 6 tháng đầu năm 2021 lên 29,92% trong 6 tháng đầu năm 2022
Bộ Công thương khẳng định, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Vương quốc Anh (UKVFTA) bước sang năm thứ 2 thực thi đang hỗ trợ ngành cà phê Việt Nam mở rộng thị phần tại Anh.
Theo cam kết của UKVFTA, sau 6 năm kể từ khi hiệp định UKVFTA có hiệu lực, Anh sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Các chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng tận dụng cơ hội từ UKVFTA mang lại và lưu ý thị hiếu người tiêu dùng Anh. Đặc điểm của người tiêu dùng tại Anh không uống cà phê đậm đặc như cà phê đen của Việt Nam. Cà phê thành phẩm có mùi và vị mạnh quá sẽ khó bán ở thị trường Anh.
Ngoài ra, về bao bì, người Anh có thói quen đọc thông tin trên bao bì rất kỹ để xác định xem sản phẩm có thành phần gây dị ứng hay không, nên được pha chế như thế nào, có đạt các tiêu chí ESG (môi trường, xã hội & quản trị) hay không. Các nhà phân phối sẽ hoan nghênh sản phẩm vừa phù hợp thị hiếu tiêu dùng vừa có bao bì đẹp.
Cà phê là một trong những nông sản có kết quả xuất khẩu cao trong 8 tháng, với sản lượng đạt 1,24 triệu tấn, trị giá 2,82 tỷ USD, tăng 14,7% về lượng và tăng 39,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Dự kiến, hết tháng 9, kim ngạch xuất khẩu cà phê sẽ vượt mức 3,07 tỷ USD thực hiện trong cả năm ngoái.
Giá xuất khẩu cà phê đã tăng đáng kể từ đầu năm tới nay. Do lo ngại thiếu hụt nguồn cung, giá cà phê cả trong nước và thị trường thế giới đều tăng lên mức kỷ lục. Tháng 8/2022, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam ước đạt 2.336 USD/tấn, tăng 1,6% so với tháng 7/2022 và tăng 16,1% so với tháng 8/2021.
8 tháng đầu năm 2022, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam ước đạt 2.268 USD/tấn, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2021.
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "