PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

 

Nguồn: NGUYỄN QUANG BÌNH

Xuất khẩu hồ tiêu tiếp tục tăng trưởng tích cực trong 2 tháng đầu năm 2022 nhờ mặt bằng giá cao hơn và nhu cầu thị trường phục hồi sau 2 năm COVID-19. Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, mục tiêu trở lại nhóm xuất khẩu tỷ đô hoàn toàn nằm trong tầm tay của ngành hồ tiêu.

Xuất khẩu hồ tiêu tăng trưởng ấn tượng

Sau một năm khởi sắc, xuất khẩu hồ tiêu của nước ta tiếp tục tăng trưởng ấn tượng trong 2 tháng đầu năm 2022 với khối lượng đạt 30.158 tấn, kim ngạch thu về 139,7 triệu USD.

So với cùng kỳ năm ngoái đạt tương đương về lượng nhưng kim ngạch tăng mạnh 60,2% (tương ứng tăng 52,5 triệu USD), theo số liệu của Tổng Cục Hải Quan.

Kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu tăng mạnh là nhờ giá xuất khẩu bình quân hồ tiêu trong 2 tháng đầu năm tăng hơn 60% (tương ứng 1.740 USD/tấn) so với cùng kỳ năm 2021, đạt bình quân 4.631 USD/tấn.

Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, việc quay trở lại nhóm hàng xuất khẩu tỷ đô đang tương đối rộng mở với ngành hồ tiêu.

Trong 2 tháng đầu năm nay, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm với khối lượng đạt 9.702 tấn, tăng mạnh 27,3% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 32% tỷ trọng xuất khẩu hồ tiêu của nước ta.

Ngoài ra, lượng hồ tiêu xuất khẩu sang các thị trường khác, đặc biệt là các nước trong khối EU cũng tăng mạnh như: Ấn Độ tăng 9,4%, Đức tăng 56,4%, Hà Lan tăng 79,9%, Tây Ban Nha tăng 100,6%...

Tuy nhiên, theo số liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong 2 tháng đầu năm đã giảm mạnh 71,5% so với cùng kỳ, chỉ đạt 1.187 tấn.

Do đó, Trung Quốc đã tụt từ vị trí thứ hai xuống vị trí thứ 6 về thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất của nước ta.

Theo VPA, chính sách "Zero COVID" của Trung Quốc đã tác động không nhỏ tới thị trường hồ tiêu của Việt Nam khi 90% lượng hồ tiêu của nước ta xuất khẩu đi Trung Quốc qua đường tiểu ngạch.

Việc tắc nghẽn ở các cửa khẩu, thắt chặt việc đi lại tại thị trường nội địa Trung Quốc khi phát hiện ca dương tính sẽ làm cho việc tiêu thụ hồ tiêu của Trung Quốc giảm xuống.

Triển vọng tích cực từ thị trường

Triển vọng nhu cầu hồ tiêu năm 2022 đang tương đối tích cực khi các quốc gia trên thế giới đã ứng phó được phần nào dịch bệnh COVID-19, tiến hành mở cửa trở lại các nhà hàng, quán ăn… khiến cho lượng tiêu thụ gia vị hồ tiêu tăng trở lại.

Nhu cầu hồ tiêu tại Mỹ trong những năm gần đây ở mức cao và có xu hướng tăng bất chấp ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch. Trong khi đó, hồ tiêu của Việt Nam đang ngày càng được ưa chuộng tại Mỹ với khối lượng nhập khẩu năm sau cao hơn năm trước.

Còn tại EU, từ ngày 26/1/2022, khối này bắt đầu áp dụng quy định mới đối với hồ tiêu nhập khẩu từ Brazil. Ngoài yêu cầu về chứng nhận kiểm định của tất cả các lô hàng nêu rõ không có salmonella thì EU sẽ tăng xác suất kiểm tra 50% lô hàng nhập khẩu để phát hiện salmonella.

Theo Trung tâm hỗ trợ nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI), trong giai đoạn năm 2016 - 2020, nhập khẩu tiêu đen của châu Âu đã tăng trung bình 5%/năm.

CBI dự kiến tiêu thụ tiêu đen của châu Âu sẽ tiếp tục tăng với tốc độ ổn định do sự gia tăng dân số châu Âu. Trong 5 năm tới, nhập khẩu có khả năng tăng với tốc độ hàng năm từ 1-2%.

Trong khi đó, cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine được cho là không ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam bởi Nga chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ 1,6% trong tổng khối lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam, trong khi Ukraine chỉ chiếm 0,3% tỷ trọng.

Còn với Trung Quốc, thị trường này vẫn đang là một ẩn số và phụ thuộc nhiều vào các chính sách kiểm soát dịch COVID-19 của Trung Quốc.

Người trồng tiêu đặt cược vào đà tăng giá của thị trường

Sau khi tăng mạnh trong nửa đầu tháng 2, giá tiêu đã quay đầu giảm và đi ngang từ nửa cuối tháng 2 đến nay.

Tính đến ngày 20/3, giá tiêu đen trong nước dao động ở mức 78.500 – 81.000 đồng/kg, giảm 5.000 – 5.500 đồng/kg so với giữa tháng 2 nhưng vẫn đang cao hơn so với mức giá 76.000 – 79.500 đồng/kg của cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, không giống như những năm trước, năm nay người trồng tiêu chỉ bán một số lượng nhỏ đủ để trang trải chi phí tạm thời và ưu tiên giữ lại hàng, kỳ vọng chu kỳ giá sẽ tăng hơn nữa. Vụ thu hoạch năm nay dự kiến kết thúc vào giữa tháng 4.

Năm nay nhìn chung tình hình thu hoạch có nhiều khó khăn do thiếu nhân công thu hái và chi phí nhân công tăng cao so với mọi năm. Ngoài ra, chi phí nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào như phân bón, xăng dầu tăng cao khiến lợi nhuận giảm và bài toán đầu tư cho vụ sau của người dân còn đang bỏ ngỏ.

Trong khi đó, việc người dân có xu hướng giữ lại hàng chờ giá tăng cũng khiến cho doanh nghiệp khó chủ động về nguồn nguyên liệu. Xuất khẩu cũng đối mặt với nhiều khó khăn thách thức khi chi phí nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tăng cao, phí vận chuyển quốc tế tiếp tục tăng ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.

Theo kết quả cuộc khảo sát mới đây của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), sản lượng hồ tiêu của cả nước trong năm nay có thể giảm 10%. Mặc dù vậy, tồn kho của các năm trước hiện vẫn còn nhiều, tập trung ở các hộ và đại lý có tiềm lực kinh tế mạnh.

Phần lớn các hộ được khảo sát cho rằng sẽ trữ tiêu vụ mới, chỉ bán ra khi có nhu cầu chi tiêu và có kỳ vọng giá tăng.

"Thực tế này có thể xảy ra nguy cơ tăng giá ảo như năm trước. Có thể nói rằng lượng tiêu trong dân từ các mùa trước vẫn còn tương đối, đó là chưa kể lượng dự trữ tại các đại lý, công ty lớn, có tiềm lực tài chính đã thu mua tích trữ từ các vụ trước", VPA nhận định.

Đây có thể coi là 1 lợi thế nữa của hồ tiêu Việt Nam so với đối thủ cạnh tranh tại EU bên cạnh những lợi thế từ Hiệp định EVFTA. Thực tế 2 tháng đầu năm nay các quốc gia trong khối EU cũng đã tăng mạnh nhập khẩu tiêu từ Việt Nam và giảm đáng kể nhập khẩu từ Brazil.

Nguồn: vietnambiz

Giá cà phê thế giới được theo dõi bởi Tổ chức cà phê Quốc tế (ICO) đã giảm xuống dưới ngưỡng 200 US cent/pound trong tháng 3 do tác động của cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine. Về thương mại cà phê toàn cầu, xuất khẩu cà phê nhân tiếp tục sụt giảm trong khi cà phê hòa tan lại tăng mạnh.

Giá cà phê giảm sau 17 tháng tăng liên tiếp

Theo ICO, chỉ số giá cà phê toàn cầu trong tháng 3 đã giảm lần đầu tiên sau 17 tháng tăng liên tiếp với mức giảm 7,6% so với tháng trước, đạt bình quân 194,8 US cent/pound.

Trong tháng, mức giá thấp nhất ghi nhận được là 186,9 US cent/pound vào ngày 15/3 và cao nhất glà 202  US cent/pound vào ngày 1/3.

Trên sàn kỳ hạn New York,  giá cà phê arabica giảm 9,4% so với tháng trước, xuống còn 222,4 US cent/pound. Tương tự, giá cà phê robusta kỳ hạn tại London giảm 5,3% xuống 95,2 US cent/pound.

Bên cạnh đó, tồn kho cà phê arabica được chứng nhận trên sàn New York vào cuối tháng 3 đã tăng trở lại sau khi giảm vào tháng trước đó, với mức tăng 13,9% từ 1,1 triệu bao lên 1,2 triệu bao. Tồn kho cà phê robusta cũng tăng 5,8%, lên mức 1,6 triệu bao so với 1,5 triệu bao của tháng trước.

Mặc dù thị trường xuất hiện những diễn biến mới nhưng ICO vẫn giữ nguyên dự báo triển vọng thị trường cà phê thế giới.

Theo đó, sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2021-2022 dự kiến đạt tổng cộng 167,2 triệu bao, giảm 2,1% so với 170,8 triệu bao của niên vụ 2020-221. Trong đó, sản lượng cà phê arabica đạt gần 94 triệu bao, giảm 7,1% so với niên vụ trước. Trái lại, sản lượng cà phê robusta dự kiến tăng 5,1% lên mức 73 triệu bao.

Cũng theo ICO, tiêu thụ cà phê toàn cầu trong niên vụ 2021-2022 dự kiến đạt 170,3 triệu bao, tăng 3,3% so với 164,9 triệu bao của niên vụ trước. Do đó, thị trường cà phê toàn cầu sẽ thâm hụt khoảng 3,1 triệu bao trong niên vụ 2021-2022, trái ngược với mức thặng dư gần 6 triệu bao trong niên vụ 2020-2021.

Sự sụt giảm này chủ yếu là do nhà sản xuất số một thế giới là Brazil, đã thu hoạch một vụ mùa nhỏ hơn. Tuy nhiên, tình hình cung cầu có thể thay đổi do kinh tế thế giới tiềm ẩn nguy cơ suy thoái, chi phí đầu vào và sản xuất tăng, trong khi tiêu thụ giảm do cuộc xung đột tại Ukraine.

                                                        Chỉ số giá cà phê toàn cầu được theo dõi bởi ICO

 

Xuất khẩu cà phê nhân giảm, cà phê hòa tan lên ngôi

Theo Tổ chức cà phê Quốc tế (ICO), trong tháng 2, xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu đạt 9,9 triệu bao (loại 60 kg/bao), giảm nhẹ so với 10,2 triệu bao của cùng kỳ năm ngoái.

Như vậy, sau 5 tháng đầu niên vụ 2021-2022 (tháng 10/2021 đến tháng 2/2022), xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu đã giảm 3% so với cùng kỳ niên vụ trước xuống còn 47,2 triệu bao.

Trong đó, xuất khẩu của nhóm cà phê arabica Brazil giảm 15,7% xuống 16,2 triệu bao; nhóm arabica Colombia giảm 12,7% xuống 5,4 triệu bao. Tuy nhiên, xuất khẩu của nhóm cà phê arabica khác tăng mạnh 17,8% lên mức 8,2 triệu bao; xuất khẩu nhóm cà phê robusta cũng tăng 6,7%, đạt 17,4 triệu bao.

Trái ngược với sự sụt giảm cà phê nhân, xuất khẩu cà phê hòa tan lại đang cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ.

Tổng khối lượng cà phê hòa tan xuất khẩu toàn cầu đã tăng tới 64,9% trong tháng 2, lên 1,5 triệu bao so với 888.000 bao của tháng 2/2021.

Tính chung 5 tháng đầu niên vụ 2021-2022, đã có tổng cộng 5,7 triệu bao cà phê hòa tan được xuất khẩu trên toàn thế giới, tăng mạnh 21,7% so với cùng kỳ niên vụ trước (4,7 triệu bao). Đóng góp vào sự tăng trưởng này là hai quốc gia Brazil và Indonesia, với mức tăng trưởng xuất khẩu là 14,6% và 50,4%.

Xuất khẩu cà phê đã rang xay cũng tăng 4,2% trong tháng 2, lên 61.182 bao từ 58.733 bao vào tháng 2/2021.

                                               Xuất khẩu cà phê các loại cà phê trong 5 tháng đầu niên vụ 2021-2022

 

Xuất khẩu cà phê của Brazil và Colombia giảm trong khi Việt Nam và các nước châu Á tăng mạnh

Từ tháng 10 năm ngoái đến tháng 2 năm nay, xuất khẩu cà phê của khu vực Nam Mỹ giảm 14,5% xuống còn 25 triệu bao.

Trong quãng thời gian này các lô hàng xuất khẩu từ Brazil chỉ đạt 17 triệu bao, giảm mạnh 20,3% so với 21,3 triệu bao của niên vụ trước. Xuất khẩu của Brazil, nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới sụt giảm do các vấn đề về chuỗi cung ứng, tình trạng thiếu container và tắc nghẽn vận chuyển. Mặt khác, Brazil cũng có một vụ mùa nhỏ hơn theo chu kỳ hai năm một lần của cây cà phê arabica.

Xuất khẩu cà phê của Colombia, nước xuất khẩu cà phê lớn thứ ba thế giới cũng ghi nhận mức giảm 10,5% xuống còn 5,3 triệu bao, do điều kiện thời tiết bất lợi kéo dài làm giảm nguồn cung.

Trong khi đó, xuất khẩu cà phê của khu vực châu Á và châu Đại Dương tăng 21,6%, đạt 18,7 triệu bao trong 5 tháng đầu niên vụ 2021-2022.

Xuất khẩu của Việt Nam, nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới đạt 11,6 triệu bao,  tăng mạnh 19,1%. Mức tăng này một phần là bởi cùng kỳ năm ngoái xuất khẩu của Việt Nam ở mức thấp do các vấn đề về hậu cần, thiếu hụt container, chi phí vận chuyển hàng hóa tăng cao và tắc nghẽn cảng biển tại các thị trường xuất khẩu chính là Mỹ và châu Âu.

Đáng chú ý là xuất khẩu cà phê của Ấn Độ tăng tới 48,8% lên mức 2,8 triệu bao trong 5 tháng đầu niên vụ 2021-2022.

Ngoài ra, xuất khẩu cà phê của Indonesia tăng 16,5% lên 3,6 triệu bao. Mức tăng này là nhờ vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp cà phê hòa tan. Indonesia đã xuất khẩu 1,1 triệu bao cà phê hòa tan trong giai đoạn từ tháng 10 năm ngoái đến tháng 2 năm nay so với 0,7 triệu bao của cùng kỳ niên vụ 2020-2021.

Trên thực tế, xuất khẩu cà phê hòa tan của Indonesia cũng đã tăng gần gấp đôi so với mức 0,6 triệu bao đạt được trong cùng kỳ niên vụ 2017-2018.

                                                     Xuất khẩu cà phê của các khu vực trong 5 tháng đầu niên vụ 2021-2022

Xuất khẩu cà phê của khu vực châu Phi trong 5 tháng đầu niên vụ 2020-2021 giảm nhẹ xuống còn 5 triệu bao so với 5,1 triệu bao của niên vụ trước.

Xuất khẩu cà phê của Uganda, nước xuất khẩu lớn nhất tại châu Phi tăng nhẹ 100.000 bao lên 2,4 triệu bao. Tuy nhiên, sản lượng giảm do hạn hán ở một số vùng trồng cà phê đang khiến xuất khẩu cà phê của nước này giảm xuống. Trong tháng 2, xuất khẩu cà phê của Uganda đã giảm 20,2% so với cùng kỳ xuống còn 449.000 bao.

Trong khu vực này, xuất khẩu cà phê của Ethiopia trong 5 tháng đầu niên vụ 2021-2022  tăng mạnh 24,6% và đạt 1,1 triệu bao. Ngược lại, xuất khẩu cà phê của Tanzania giảm 5,1% xuống 530.000 bao.

Tại khu vực Trung Mỹ và Mexico, xuất khẩu cà phê của khu vực này trong 5 tháng đầu niên vụ 2021-2022 đạt 4,6 triệu bao, tăng 13,4%. Mặc dù vậy, xuất khẩu của khu vực này trong tháng 2 đã giảm 4,1%, xuống còn 1,5 triệu bao.

Honduras, nhà sản xuất lớn nhất khu vực chỉ xuất khẩu 503.000 bao cà phê trong tháng 2, giảm 21,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo Hiệp hội các nhà xuất khẩu cà phê Honduras (AHDECAFE), sản lượng cà phê của nước này giảm do ảnh hưởng bởi chu kỳ sản xuất hai năm một lần và sự xuất hiện của bệnh gỉ sắt trên lá cà phê.

Còn tại Mexico, quốc gia xuất khẩu lớn thứ hai của khu vực đã xuất khẩu 1,2 triệu bao cà phê trong 5 tháng đầu tiên của niên vụ 2021-2022, tăng 12,7% so với cùng kỳ niên vụ trước. Ngoài ra, xuất khẩu cà phê từ Guatemala cũng tăng mạnh 15,5% lên 810.000 bao.

Nguồn: vietnambiz

Giá đóng cửa 2 sàn cà phê phái sinh 30/03/22

London tháng 05 và 07/22

2152+27(2162/2118)>2140+25(2145/2108)

New York tháng 05 và 07/22.

221.85+6.15(223.2/213.1)>221.9+6.1(223.25/213.35)

Thông số ảnh hưởng giá cà phê

-Giá cách biệt 2 sàn arabica với robusta: 124,83 vs 119,86 cts/lb.

-Chỉ số DX: 97,90 vs 98,47 điểm.

-Giá trị đồng nội tệ Reais Brazil (Brl) trong cặp tỷ giá UsdBrl: 4,77 vs 4,75Mức thấp kỷ lục 5,99 Brl lập 8/5/2020!

Lời bàn về thị trường:

-Giá hai sàn cà phê tăng rất tốt cùng với các sàn hàng hóa khác. Giá cổ phiếu Mỹ cũng tăng. Tất cả nhờ giá trị đồng USD giảm mạnh. Chỉ số DXY rớt xuống mức thấp nhất tính từ gần 1 tháng nay.

-Tồn kho đạt chuẩn thuộc sàn New York ngày 29/3 giảm 606,3 tấn còn 66.754 tấn và London giảm 120 tấn còn 97.380 tấn.

-Chính quyền Thượng Hải áp đặt lệnh phong tỏa nửa thành phố để ngoáy mũi nhân dân tìm virus corona, sau đó sẽ ngoáy cho nửa phần còn lại. Thượng Hải là phố biển quan trọng của Trung Quốc. Các hãng tàu biển cho biết khả năng ùn ứ hàng hóa là rất có thể và…giá cước tàu còn tăng nữa.

-Giá cà phê tăng có khi nó được cấy giá cước tàu biển ngoài giá trị USD giảm.

-Lạm phát tại EU ở mức trên 6%. Đây là yếu tối tiêu cực cho thị trường hàng hóa.

-Giá cà phê nội địa loại 2 tối đa 5% đen vỡ hôm nay ước quanh mức 42,7 triệu đồng so với hôm qua 42,4 triệu. Giá tiêu đen tại vùng nguyên liệu ở mức 78-82 triệu đồng/tấn.

Nguồn: Nguyễn Quang Bình

Page 83 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]