Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Nếu tới Bangkok, bạn đừng quên ghé qua 5 quán cà phê siêu dễ thương để nhâm nhi tách cafe và trò chuyện cùng người dân bản xứ nhé!
1. Everyday by Karmakamet
Ngoài hai cửa hàng ở chợ Chatuchak và trung tâm thương mại Central World, thương hiệu Karmakame còn mở một cơ sở khác gần tòa nhà Yada, lấy tên là “Everyday by Karmakame”. Đây là một thương hiệu tích hợp nhiều dịch vụ trong một địa điểm, một xu hướng đang rất thịnh hành thời gian này ở Bangkok.
Thực khách đến đây có thể tìm mua nhiều sản phẩm chăm sóc cơ thể như kem dưỡng da, nước hoa, đồ trang trí nhà cửa, thậm chí bán nhiều sản phẩm handmade như gối, khăn, áo phông của nhiều thương hiệu.

Quán có không gian tĩnh lặng nên là địa điểm cho những ai yêu thích sự yên tĩnh để sáng tạo. Nhiều thực khách đã mô tả về cảm giác của mình sau khi rời khỏi quán rằng: “Bạn có thể dành hàng giờ để đọc một cuốn sách, nhâm nhi tách cafe như một người vô hình. Chẳng ai làm phiền bạn, nếu bạn không thực sự muốn”.
Quán ở địa chỉ: 1/F Yada Building, đường Silom, gần bến MRT Silom hoặc bến BTS Sala Daeng.
2. Roast Coffee & Eatery
Roast là cái tên được nhắc đến nhiều như một “địa chỉ đỏ” dành cho tín đồ cafe ở Bangkok, nơi bạn vừa có thể thưởng thức ly cafe ngọt ngào và bữa tối lãng mạn tại một địa điểm khá trung tâm. Gần đây, việc tới quán cafe không chỉ để uống mà còn để ăn các bữa chính đang là xu hướng hot tại thành phố bận rộn này.

Roast Coffee & Eatery sở hữu thực đơn phong phú, với 90 món từ ăn sáng, ăn trưa, ăn tối và đồ uống đi kèm. Quán được thiết kế với cửa kính khá lớn để hứng nhiều ánh sáng tự nhiên nhất mức có thể nên nếu tới đây vào một ngày nắng nhẹ thì thật tuyệt. Dùng bữa xong, bạn có thể mua sắm trong các trung tâm thương mại ngay gần đó, nhưng coi chừng bị lạc bởi có quá nhiều hàng hóa được bày bán.
Quán ở địa chỉ: SeenSpace Thong Lor Soi 13, gần trạm Thonglor, mở từ 10h đến 23h từ thứ 2 đến thứ 5, từ 9h đến 12h30 thứ 6 và thứ 7 còn ngày chủ nhật từ 9h đến 23h.
3. Ceresia Coffee Roaster
Nếu như tìm đến Casa Lapin vì yêu thích không gian thì những ai nghiền cafe thứ thiệt lại thường tới quán Ceresia Coffee Roaster hơn bởi đây còn là nơi bán hạt cafe rang. Chính vì thế mà hương vị cafe ở đây đậm đà và có mùi hương hấp dẫn hơn ở các nơi khác.

Quán được trang trí theo phong cách tối giản, tường để nguyên lớp gạch thô mộc mạc còn bàn ghế, kệ đồ được đóng từ những mảnh gỗ màu sáng và thiết kế đơn giản.
Quán ở địa chỉ: 593/29-41 Sukhumvit Soi 33/1, gần trạm BTS Phrom Phong. Mở cửa từ thứ 3 đến Chủ Nhật, từ 8h đến 18h.
4. Roots Coffee Roaster
Roots Coffee Roaster là một chi nhánh của nhà hàng Roast nhưng chỉ bán cafe chứ không phục vụ nhiều đồ ăn mặn như người chị em của mình. Thực chất, đây còn là một trung tâm đào tạo các khóa học thẩm định chất lượng cafe và các khóa học pha chế chuyên nghiệp cho những ai đam mê. Do đó, quán chỉ mở vào 2 ngày cuối tuần cho khách bình thường.

Mặc dù vậy, Roots vẫn thu hút được khá đông thực khách. Ngoài chất lượng pha chế được chăm chút cẩn thận của các học viên, quán được trang trí theo phong cách mộc mạc nhưng rất có gu.
Quán ở địa chỉ: Ekamai Terrace #2-4, Sukhumvit Soi 63, giữa Ekamai Soi 15 và 17, mở từ 12h đến 18h thứ 7 và chủ nhật.
5. c
Giữa rất nhiều quán cafe mang các phong cách khác nhau ở khắp Bangkok, Casa Lapin có thể coi là một trong những tụ điểm “hot” nhất trong giới trẻ yêu nghệ thuật ở thành phố này, với cách trang trí quán trẻ trung, đơn giản mà đẹp mắt.
Hầu hết nội thất trong quán đều được làm từ gỗ sáng màu, đối lập với nó là những chi tiết bằng kim loại đen như tủ gỗ, chân ghế, lan can tạo ra sự đồng bộ thống nhất và rất Tây cho không gian quán nhỏ. Với những ai sống ở Hà Nội hay TP HCM, bạn sẽ thấy Casa Lapin thân quen bởi mang hơi hướng trang trí của L’Usine (Đồng Khởi, TP HCM) hay The Kafe (Điên Biên Phủ, Hà Nội).

Hầu như không có nơi nào trong Casa Lapin là thiếu vắng màu xanh của cây cỏ, từ những chậu hoa được tưới nước hàng ngày, cho tới những bình hoa rực rỡ hay giàn cây dây leo nhỏ xinh nhưng đầy sức sống. Menu của quán cũng mang phong cách châu Âu, với nhiều đồ uống kiểu đá xay ice-blended.
Quán có 2 địa chỉ:
– Casa Lapin: Thonglor Art Village, giữa Thonglor Soi 17 & 19. Mở từ 8h30 đến 20h30 ngày thường và 10h30 đến 20h30 cuối tuần.
– Casa Lapin X49: Soi Songphinong, giữa Thonglor 13 và Sukhumvit Soi 49/7, gần trạm BTS Thonglor. Mở từ 7h30 đến 20h30 ngày thường và 10h30 đến 20h30 cuối tuần.
Intimex Nhatrang (st)
Do năng suất giảm nên lượng hồ tiêu xuất khẩu cả năm 2015 dự kiến đạt khoảng 130.000 tấn, giảm 26.000 tấn so với năm 2014. Tuy vậy, nhờ giá tăng nên kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu vẫn đạt mức khoảng 1,2 tỉ đô la Mỹ.
Theo ông Trần Đức Tụng, Chánh văn phòng Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam (VPA), năm 2014, lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam là 156.000 tấn, giá trị thu về là 1,2 tỉ đô la Mỹ. Còn năm 2015, lượng hồ tiêu xuất khẩu chỉ vào khoảng 130.000 tấn, nhưng bù lại, giá bán luôn ở mức trên 9.000 đô la Mỹ/tấn nên giá trị thu về gần tương đương năm ngoái.
“Chúng tôi đưa ra số lượng hồ tiêu xuất khẩu dựa trên những thông tin liên quan đến năng suất, sản lượng của các địa phương trồng hồ tiêu, căn cứ trên lượng hồ tiêu dự trữ của người dân. Năm nay, do ảnh hưởng của thời tiết, năng suất hồ tiêu của nhiều địa phương giảm nên sản lượng giảm, kéo theo lượng xuất khẩu giảm theo”, ông Tụng giải thích cho số liệu dự báo mà VPA đưa ra.
Trước đó, VPA đã có hai đợt khảo sát các tỉnh trồng hồ tiêu ở các tỉnh Đông Nam bộ, Tây Nguyên và kết quả khảo sát cho thấy, do ảnh hưởng của thời tiết nên năng suất trồng tiêu giảm đáng kể, có địa phương năng suất giảm đến 40% so với vụ trước.
Trong những năm qua, lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam chiếm 50% lượng hồ tiêu thương mại thế giới. Vì thế, khi Việt Nam bị mất mùa hồ tiêu, giá hồ tiêu trên thị trường thường có xu hướng tăng. Theo ông Tụng, trong suốt 8 tháng qua, giá hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam đều ở mức trên 9.000 đô la Mỹ/tấn.
Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), lượng hồ tiêu xuất khẩu trong 8 tháng của năm nay là 104.000 tấn, giá trị thu về là 978 triệu đô la Mỹ, giảm gần 22% về lượng nhưng chỉ giảm 1% về giá trị. Giá hồ tiêu xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm đạt 9.373 đô la Mỹ/tấn, tăng hơn 28% so với cùng kỳ năm 2014.
Giá hồ tiêu trong ngày 31-8, tại các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam bộ dao động từ 199.000-204.000 đồng/kg, tăng 2.000 đồng/kg so với ngày hôm trước.
Ngọc Hùng (TheSaigontimes)
Volcafe ước tính thị trường cà phê thế giới niên vụ 2015-2016 sẽ thiếu hụt 3,5 triệu bao, trái với dự báo dư thừa 1,3 triệu bao đưa ra hồi tháng 5.
Như vậy, đây là năm thứ hai thứ 2 liên tiếp nhu cầu cà phê vượt nguồn cung. Volcafe - công ty kinh doanh cà phê thuộc tập đoàn ED&F Man - ước tính niên vụ 2014-2015 thế giới thiếu 6,4 triệu bao, khi lượng cà phê lưu kho của Brazil sụt giảm trong niên vụ hiện tại và niên vụ tới.
Nguồn cung cà phê Robusta tăng so với Arabica do lượng cà phê Robusta lưu kho của các nước sản xuất dự đoán tăng lên, sẽ khích lệ các nhà chế biến/rang xay tăng cường sử dụng loại cà phê này trong việc pha trộn. Volcafe cho biết, trong niên vụ 2015-2016, dự đoán các nhà nhập khẩu sẽ tăng sử dụng cà phê Robusta thêm 4% và giảm sử dụng Arabica Brazil 7%, do vậy, kết quả là sẽ thiếu hụt 2,2 triệu bao cà phê Robusta.
Hôm 25/8 ngân hàng Rabobank cũng đã nâng dự báo về mức thiếu hụt cà phê toàn cầu niên vụ 2015-2016 lên 1,9 triệu bao từ 1 triệu bao công bố 1 tháng trước đó.
Dự đoán của Rabobank về mức thiếu hụt trong niên vụ 2014-2015 cũng được điều chỉnh tăng lên 6,9 triệu bao từ 6,7 triệu bao đưa ra trước đây do sản lượng cà phê đáng thất vọng của Peru.
Theo Rabobank, các yếu tố cơ bản trên thị trường cà phê đã “trở nên tích cực” mặc dù môi trường kinh tế vĩ mô còn ảm đạm. Do vậy, giá Arabica có thể tăng lên 140 cent/pound vào cuối năm nay từ 120 cent hiện nay. Thời tiết bất lợi ở Brazil và sản lượng của Việt Nam sẽ chỉ ở mức trung bình trong khi nhu cầu ở châu Âu tăng sẽ là lý do chính khiến giá tăng lên.
Sản lượng toàn cầu giảm
Volcafe đã hạ dự báo sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2015-2016 xuống 149,6 triệu bao, giảm 4,9 triệu bao so với dự báo trước đó do sản lượng cà phê của Brazil, Việt Nam và Colombia đều giảm.
“Tồn trữ sẽ vẫn đủ để đáp ứng nhu cầu dự kiến cho vụ tới, song dự trữ đệm sẽ chỉ còn rất ít vào cuối vụ 2015-2016”, theo Volcafe.
Sản lượng cà phê của Brazil vụ tới dự báo đạt 48,3 triệu bao, giảm so với 51,9 triệu bao dự đoán hồi tháng 5 và giảm 0,9 triệu bao so với vụ trước, và ghi nhận mức thấp nhất kể từ 2011-2012. Các chuyên gia dự đoán sản lượng của nước này sẽ vào khoảng từ 45 triệu đến 51,8 triệu bao. Sản lượng Cà Phê Arabica dự báo sẽ đạt 32,6 triệu bao và Robusta .
Theo Volcafe, trong vụ vừa qua, kích cỡ hạt cà phê Brazil nhỏ hơn những vụ trước, và tỷ lệ quả chín khi thu hoạch cũng không cao.
Tổng sản lượng cà phê Brazil hai vụ 2014-2015 và 2015-2016 sẽ thấp hơn khoảng 14% so với 2 vụ trước đó do đợt hạn hán trong năm 2014 và đầu năm 2015.
Theo ước tính của Volcafe, sản lượng cà phê của Colombia niên vụ 2015-2016 đạt 13 triệu bao, tăng so với 12,5 triệu bao niên vụ 2014-2015, trong bối cảnh “mùa màng nhìn chung diễn biến tốt, song thời tiết khô hạn lại làm gia tăng lo ngại”.
Volcafe dự báo sản lượng cà phê của Việt Nam - nước sản xuất cà phê Robusta lớn nhất thế giới - niên vụ 2015-2016 đạt 30 triệu bao, giảm so với 30,5 triệu bao dự đoán hồi tháng 5 do nhiều nông dân chuyển diện tích đất cà phê sang trồng các loại cây khác lợi nhuận cao hơn như hồ tiêu.
"Theo khảo sát sơ bộ hồi đầu hè thì vụ này dự báo sẽ được mùa, song chúng tôi nhận thấy rằng năng suất giảm nhẹ”, và “việc tưới nước có thể làm giảm bớt những ảnh hưởng tiêu cực do mưa đến muộn, nhưng một số khu vực vẫn trong tình trạng thiếu nước”, Volcafe cho biết.
Nhu cầu tăng
Nhu cầu cà phê của EU tăng mạnh hơn so với dự đoán, với lượng tiêu thụ trong quý II/2015 đạt 11,8 triệu bao, tăng 2,7% so với cùng quý năm ngoái, theo Rabobank.
Ngoài ra, nhu cầu ở Thụy Sĩ và Na Uy cũng tăng trong khi nhập khẩu vào Nga không có dấu hiệu giảm bất chấp đồng rúp suy yếu.
Theo Rabobank, 6 tháng đầu năm 2015 các nước không sản xuất cà phê đã tiêu thụ nhiều hơn 1,75 triệu bao so với cùng kỳ năm ngoái.
Dự báo của Volcafe và Rabobank đều dựa trên cơ sở thời tiết “bình thường”. Nếu thời tiết ở những nước sản xuất lớn như Brazil trở nên thất thường thì tình trạng sẽ còn xấu hơn những gì họ dự đoán trên đây.
Nhật Trường (NCĐT/Agrimoney)
Ngày giao dịch cuối cùng của tháng 8-2015 trên sàn cà phê London vừa chấm dứt. Giá thị trường nội địa và kỳ hạn quay về mức thấp nhất tính từ ngày 1-10-2014 - đầu niên vụ 2014-15. Xem ra thử thách còn lớn, cam go còn nhiều cho thị trường cà phê.
Giá cà phê rớt xuống sâu
Chỉ còn một tháng nữa niên vụ cà phê 2014-15 sẽ kết thúc mà thị trường cà phê chưa hết thử thách và cam go.
Thử thách lớn nhất là xuất khẩu cà phê Việt Nam thời gian qua vẫn hết sức khiêm nhường. Tổng cục Thống kê mới đây ước báo xuất khẩu cà phê Việt Nam trong tháng 8-2015 chỉ đạt 90.000 tấn, giảm 8% so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy, tổng lượng xuất khẩu của 11 tháng đầu niên vụ này chỉ đạt 1,17 triệu tấn, giảm 22% so với cùng kỳ.
Tuy vừa qua ngân hàng nhà nước mở rộng biên độ giao dịch tỷ giá liên ngân hàng giữa tiền đồng Việt Nam và đô la Mỹ lên +/-3%, đồng tiền Việt Nam rẻ hơn, giá cà phê trên thị trường nội địa cũng chưa vì thế mà tăng.
Trong tháng 8-2015, giá cà phê nguyên liệu tại các tỉnh Tây Nguyên đã có ít nhất hai lần chạm đáy 35 triệu đồng tấn sau khi vượt lên đỉnh 37,5 triệu đồng vào giữa tháng. Đến sáng hôm nay 29-8, ngày giao dịch cuối tháng Tám (ngày 31-8, sàn kỳ hạn London sẽ nghỉ lễ), thị trường nội địa quay mạnh về mức 35 triệu đồng/tấn, mất 0,5 triệu đồng/tấn so với ngày trước đó. Như vậy, ai còn trữ cà phê từ đầu mùa, còn lỗ ít nhất 5 triệu đồng/tấn.
Đến giáp hạt giá vẫn giảm, tại sao?
Trên sàn kỳ hạn cà phê robusta London, giá đóng cửa ngày giao dịch hôm qua 28-8 chốt tại 1.611 đô la Mỹ/tấn, chạm mức thấp nhất kể từ đầu niên vụ ngày 1-10-2014 đến nay. Nhìn lại tháng Tám, có lúc giá kỳ hạn đã tăng từ mức 1.645 đô la/tấn vào ngày giao dịch đầu tháng lên 1.740 đô la/tấn vào giữa tháng (xin xem biểu đồ bên dưới).

Biểu đồ 1: Diễn biến giá đóng cửa sàn kỳ hạn robusta Ice London (nguồn: Ice London)
Giá arabica trên sàn kỳ hạn Ice New York cũng không khá hơn, đóng cửa quay về mức thấp nhất tính từ đầu năm 2014 chốt tại 120,05 xu/cân Anh (cts/lb) tương đương với 2.464 đô la Mỹ/tấn.
Thị trường tin rằng đồng real Brazil (BRL) bị phá giá liên tục và đang nằm ở mức thấp nhất tính từ 12 năm nay (hiện nay 3,58 BRL ăn 1 đô la Mỹ), cùng với đồng bản tệ của các nước sản xuất cà phê lớn khác như đồng peso của Colombia, đồng rupiah của Indonesia và mới đây tiền đồng VND… giảm giá tạo sức ép bán ra từ lực lượng đầu cơ trên thị trường kỳ hạn “hàng giấy”, là nguyên nhân chính làm giá kỳ hạn giảm đẩy giá cà phê hàng thực tại thị trường nội địa giảm liên tục vì “thuốc chữa” chưa đủ liều.
Nhiều người nhận định rằng cú giảm mạnh hôm qua vào cuối phiên trên sàn kỳ hạn robusta xuất phát từ tin nền kinh tế Brazil, nước sản xuất cà phê hàng đầu thế giới, chính thức vào thời kỳ suy thoái. Tính từ đầu năm đến nay đồng BRLvốn đã bị phá giá 25% nay sức ép phá giá đồng bản tệ này còn chịu áp lực mạnh hơn.
Tồn kho các nước tiêu thụ tăng nhờ giá cà phê rẻ
Tồn kho cà phê tại Nhật Bản tính đến hết tháng 7-2015 tăng lên mức cao kỷ lục, đạt 195.570 tấn, hiệp hội Cà phê Nhật Bản cho biết trong báo cáo định kỳ mới nhất. Lượng cà phê nhập khẩu từ Brazil, Colombia và Trung Mỹ chiếm phần nhiều, riêng cà phê từ Colombia nhập khẩu vào đất Nhật trong tháng 7-2015 tăng 11,6% chiếm 23.603 tấn.
Tồn kho cà phê châu Âu tính đến cuối tháng 6-2015 đạt 691.514 tấn, tăng 26.500 tấn, tương đương 4% so với cùng kỳ năm 2014.
Tồn kho cà phê robusta đạt chuẩn tính đến ngày 17-8 đạt mức 203.680 tấn trong khi đó lượng tồn kho đạt chuẩn arabica còn 125.392 tấn.

Biểu đồ 2: Tồn kho cà phê tại Nhật bản (số liệu: AJCA –nguồn SocGen)
Châu Âu và Nhật Bản là hai khối nước tiêu thụ cà phê lớn. Riêng tại Nhật Bản, khách thường mua cà phê chất lượng cao. Trước đây, khi giá arabica mắc mỏ, khách hàng Nhật thường mua cà phê robusta chế biến ướt để thay thế cho arabica. Từ hai niên vụ này, do Brazil và Colombia xuất khẩu mạnh arabica, hàng cà phê robusta chất lượng cao của Việt Nam mất bớt sức hấp dẫn. Nếu như trước đây giá robusta loại 1 chế biến ướt có khi bán 500-600 đô la/tấn trên giá niêm yết sàn kỳ hạn London, thì nay giá chào chừng 400 đô la/tấn nhưng vẫn vẫn rất khó bán, một nhà cung ứng hàng chất lượng cao robusta cho biết.
Phải nói rằng nhờ giá cà phê trên các sàn kỳ hạn rẻ, các nước nhập khẩu tăng cường mua nhiều hơn, đặc biệt loại arabica. Trong khi các nước xuất khẩu khác có thể cạnh tranh bằng cách phá giá đồng bản tệ của họ, thì việc mở rộng biên độ giao dịch tỷ giá của nước ta chưa đủ sức để lấy lại thị phần đã mất.
Le lói chút hy vọng
Gần đây, một số dự báo cung-cầu cà phê từ ngân hàng Rabobank và Volcafe, hãng kinh doanh có trụ sở ở Thụy Sĩ cho rằng do sản lượng cà phê Brazil giảm, thế giới sẽ thiếu hụt cà phê.
Trong niên vụ 2015-16 sẽ bắt đầu từ 1-10-2015, Volcafe cho rằng thế giới sẽ thiếu chừng 3,5 triệu bao (60 kg x bao) còn Rabobank ước thiếu 1,9 triệu bao.
Đấy là yếu tố tích cực cho giá trong tuần có khi nhích lên nhẹ. Tuy nhiên, nếu như đồng BRL tiếp tục phá giá trong khi VND vẫn có thể bị “ghì” lại với mức hiện có, cơ hội xuất khẩu cà phê còn lại của vụ cũ và cả vụ mới chuẩn bị vào mùa xem ra còn quá nhiều cam go.
Từ nhiều năm nay, các ước báo dư thiếu hàng hóa nông sản trên thị trường thường bị các yếu tố đầu cơ khuynh loát nên doanh nghiệp xuất khẩu và nông dân trồng cà phê cần nghiêm túc nhận định thị trường để tìm hướng dù có thể đầy gai góc. Tuy nhiên, hơn lúc nào hết, ngành cà phê đang cần bàn tay của Chính phủ tạo điều kiện tối đa cho kích cầu cà phê trên thị trường nội địa, tìm hướng xuất khẩu theo các hiệp định trả nợ, khai phá thị trường mới, bền vững… mới mong gỡ được lối bí cho hoạt động xuất khẩu cà phê nay mai.
Nguyễn Quang Bình (Thời báo kinh tế Sài Gòn online)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "