Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá tiêu hôm nay ngày 22/7/2024, tại khu vực Đông Nam Bộ, tăng 1.000 -1.500 đồng/kg ở một số địa phương, giao dịch quanh mốc 146.000 -147.500 đồng/kg, giá mua cao nhất tại các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông là 147.500 đồng/kg.
Cụ thể, giá tiêu Đắk Lắk được thu mua ở mức 147.500 đồng/kg tăng 1.500 đồng/kg so với ngày hôm qua. Giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) thu mua ở mức 146.000 đồng/kg. Giá tiêu Đắk Nông hôm nay ghi nhận lên mức 147.500 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu hôm nay tăng 1.000 -1.500 đồng/kg so với ngày hôm qua. Cụ thể, tại Bà Rịa – Vũng Tàu hiện vẫn ở mức 146.000 đồng/kg; tại Bình Phước giá tiêu hôm nay giảm xuống ở mức 146.500 đồng/kg.
Như vậy, giá tiêu trong ngày hôm nay ghi nhận tăng nhẹ tại một vài đia phương, ghi nhận mức giá cao nhất 147.500 đồng, dao động ở vùng giá 146.000 – 147.500 đồng/kg.
Hiện tại, giá hạt tiêu đang trong tình trạng “rung lắc” tức là lúc lên, lúc xuống, nhưng nhìn chung là trong xu thế sẽ tiếp tục tăng lên. Theo ông Hoàng Phước Bính - Phó Chủ tịch Hiệp hội Hạt tiêu Chư Sê (Gia Lai), không chỉ năm nay, giá hạt tiêu sẽ còn tiếp tục ở mức cao trong nhiều năm tới, bởi mỗi chu kỳ tăng giá thường kéo dài trong khoảng 10 năm.
Giá tiêu thế giới hôm nay
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 7.191 USD/tấn, giảm 0,25%; giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 7.125 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA mức 7.500 USD/tấn.
Giá tiêu trắng Muntok 9.157 USD/tấn giảm 0,24%; giá tiêu trắng Malaysia ASTA ở mức 8.800 USD/tấn.
Giá tiêu đen Việt Nam đồng loạt giữ giá ở mốc cao giao dịch ở 6.000 USD/tấn với loại 500 g/l; loại 550 g/l mức 6.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 8.800 USD/tấn .Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) giữ nguyên giá tiêu tại Brazil, Việt Nam. Giá tiêu đen Indonesia giảm so với ngày hôm qua.
Tính đến hết năm 2023, diện tích hồ tiêu toàn tỉnh Ðắk Nông đạt 33.789 ha, sản lượng đạt 70.685 tấn, tăng 28.458 tấn so với 2018. Hiện Ðắk Nông đứng thứ nhất ở khu vực Tây Nguyên và cả nước về diện tích trồng hồ tiêu, sản lượng đứng thứ hai cả nước (sau tỉnh Ðắk Lắk).
Đắk Nông sẽ duy trì diện tích trồng hồ tiêu đến năm 2025 đạt khoảng 34 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 52 nghìn tấn và năm 2030 diện tích đạt khoảng 33,6 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 60 nghìn tấn; hình thành và phát triển 4 vùng sản xuất hồ tiêu ứng dụng công nghệ cao, vùng sản xuất tập trung với diện tích 3.049 ha tại các vùng trọng điểm sản xuất hồ tiêu của tỉnh.
Dù giá tiêu đang ở mức cao nhưng các địa phương, và ngay cả người dân hiện cũng rất thận trọng trong việc mở rộng diện tích trồng hồ tiêu. Nguyên nhân một phần do giá trị của hồ tiêu không còn cao bằng những loại cây trồng khác. Từ lâu hồ tiêu không còn được coi là "vàng đen".
Tại Đông Nam Bộ, Đồng Nai là một trong những tỉnh trồng hồ tiêu lớn với khoảng 11.000 ha. Năm 2018, diện tích hồ tiêu của tỉnh Đồng Nai đạt 19.000 ha. Nhiều năm giá tiêu ở mức thấp khiến tỉnh này mất đi 8.000 ha trồng tiêu để chuyển sang những loại cây trồng có giá trị cao hơn. Năm nay, mặc dù mức giá tăng gấp đôi nhưng người dân vẫn dè dặt mở rộng diện tích.
Định hướng chung của ngành là sản xuất hồ tiêu sạch theo hướng bền vững, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Xuất khẩu hồ tiêu của Brazil đạt mức cao kỷ lục 92.065 tấn vào năm 2021, nhưng sau đó giảm xuống còn 86.359 tấn năm 2022 và 80.725 tấn năm 2023.
Sản lượng giảm từ Brazil và Việt Nam, hai quốc gia sản xuất hồ tiêu hàng đầu thế giới đã đẩy giá tiêu thế giới liên tục tăng cao trong thời gian qua.
Một số chuyên gia nhận định dấu hiệu thiếu hụt nguồn cung so với nhu cầu sẽ được thị trường tiếp tục ghi nhận và phản ánh trong thời gian tới cho đến khi giáp hạt.
Trong khi đó, chi phí vận chuyển hàng hóa tăng nhanh và tắc nghẽn cảng ở châu Á cũng tác động đến giá cả ở các thị trường nhập khẩu, và có thể gây ra sự chậm trễ vận chuyển. Điều này khiến giá tăng trong trung và dài hạn.
Giá tiêu trong nước ngày 22/7/2024
|
Tỉnh, thành |
ĐVT |
Giá mua của thương lái |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
đồng/kg |
147.000 |
+1.000 |
|
Đắk Lắk |
đồng/kg |
147.500 |
+1.500 |
|
Đắk Nông |
đồng/kg |
147.500 |
+1.500 |
|
Bình Phước |
đồng/kg |
146.000 |
+1.000 |
|
Bà Rịa -Vũng Tàu |
đồng/kg |
146.000 |
+1.000 |
*Thông tin mang tính tham khảo. Giá có thể thay đổi tùy theo từng thời điểm, từng địa phương.
Nguồn: Báo Công Thương
Giá tiêu trong nước hôm nay
Giá tiêu hôm nayngày 15/7/2024, tại khu vực Đông Nam Bộ, giao dịch chững lại ở một số địa phương, giao dịch quanh mốc 150.400 đồng/kg, giá mua cao nhất tại các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đắk Nông là 151.000 đồng/kg.
Cụ thể, giá tiêu Đắk Lắk được thu mua ở mức 150.000 đồng/kg, bằng giá so với ngày hôm qua. Giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) tiếp tục đứng giá ở mức 150.000 đồng/kg. Giá tiêu Đắk Nông hôm nay cũng giữ vững mức 151.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu hôm nay cũng diễn biến tương tự. Cụ thể, tại Bà Rịa – Vũng Tàu đồng ổn định ở mức 151.000 đồng/kg; tại Bình Phước giá tiêu hôm nay vẫn giữ ở mức 150.000 đồng/kg.
Như vậy, giá tiêu trong ngày đầu tuần đang neo ở mức giá tương đối cao sau nhiều ngày tăng, giảm trái chiều, hiện tại giá tiêu đang có xu hướng tiến lên mốc 152.000 đồng/kg. Tại tất cả các địa phương, giá tiêu đều ở ngưỡng 150.000 đồng/kg trở lên. Giá tiêu cao nhất được ghi nhận ở mốc 151.000 đồng/kg.
Giá tiêu trong tuần đi một vòng trở về vị trí cũ. Hai ngày đầu giá tiêu tại các vùng tăng mạnh 3.000 đồng/kg, hai ngày tiếp theo biến động tăng giảm nhẹ 1.000 đồng/kg tại một số địa phương, hai ngày cuối cùng đồng loạt giảm 2.000 đồng/kg.
Theo số liệu của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), kết thúc năm 2017, toàn quốc có diện tích hồ tiêu 153.000 ha. Tuy nhiên, đến năm 2023, diện tích trồng tiêu chỉ còn 115.000 ha do tình trạng dư cung ở chu kỳ trước khiến giá tiêu xuống thấp, người trồng tiêu lỗ nặng và buộc phải phá bỏ vườn trồng. Điều này đang khiến sản lượng tiêu giảm nhanh, giúp giá tiêu vững ở mức cao.
Quy mô thị trường hồ tiêu toàn cầu được định giá 5,43 tỷ USD, dự báo tăng trưởng trung bình hơn 20% trong giai đoạn 2024 - 2032. Vấn đề của Việt Nam hiện nay là làm sao ổn định được sản lượng hạt tiêu ở mức từ 170.000 - 190.000 tấn để duy trì được vị thế của hồ tiêu Việt Nam trên thị trường thế giới.
Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho rằng vấn đề cốt lõi trong việc giữ diện tích, sản lượng hạt tiêu là phải đảm bảo được giá tốt cho nông dân để họ tiếp tục gắn bó với cây trồng này.
Mặc dù giá tiêu đang ở quanh vùng giá cao, nhưng người dân vẫn chưa mặn mà với việc mở rộng diện tích canh tác tiêu trở lại.
Hiệp hội Hạt tiêu và cây gia vị Việt Nam dẫn lời chuyên gia nhận định, dấu hiệu thiếu hụt nguồn cung so với nhu cầu tiếp tục được ghi nhận trong thời gian tới cho đến khi giáp hạt.
Giá tiêu thế giới hôm nay
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 7.211 USD/tấn (tăng 0,96%); giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 7.150 USD/tấn (giảm 1,37%); giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA mức 7.500 USD/tấn.
Giá tiêu trắng Muntok 9.182 USD/tấn (tăng 0,97%); giá tiêu trắng Malaysia ASTA ở mức 8.800 USD/tấn.
Giá tiêu đen Việt Nam đồng loạt giữ giá ở mốc cao giao dịch ở 6.000 USD/tấn với loại 500 g/l; loại 550 g/l mức 6.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 8.800 USD/tấn .IPC giư nguyên giá tiêu tại Indonesia, Brazil, Việt Nam.
Giá trong nước ngày 15/7/2024
|
Tỉnh, thành |
ĐVT |
Giá mua của thương lái |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
đồng/kg |
150.000 |
- |
|
Đắk Lắk |
đồng/kg |
150.000 |
- |
|
Đắk Nông |
đồng/kg |
151.000- |
- |
|
Bình Phước |
đồng/kg |
150.000 |
- |
|
Bà Rịa -Vũng Tàu |
đồng/kg |
151.000 |
- |
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam thông tin, tháng 6/2024 Việt Nam xuất khẩu được 28.162 tấn hồ tiêu các loại. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 141,1 triệu USD. So với tháng trước lượng xuất khẩu giảm 10,2%, tuy nhiên kim ngạch lại tăng nhẹ 0,1%.
Về kim ngạch xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo ngành hàng tiêu năm nay có thể lấy lại vị trí 1 tỷ USD.
Một số doanh nghiệp quay sang tìm nguồn cung tiêu từ các nước khác như Brazil, Ấn Độ để có đủ hàng, trả các hợp đồng đã ký nhưng việc tỷ giá USD tăng cao cùng vận tải biển tăng cao 2-3 lần gây ra các khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp xuất khẩu tiêu.
Tuy giá hồ tiêu tăng cao, nhưng thị trường giao dịch khá ảm đạm. Các doanh nghiệp xuất khẩu đau đầu vì bên thì không có hàng để bán, bên thì có hàng để bán thì càng bán càng lỗ.
Vào tháng 8, thị trường hy vọng tình hình vận tải biển ổn định trở lại sau khi Mỹ tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc.
Nông dân và các nhà xuất khẩu tiêu tại Việt Nam cần theo dõi sát sao các thông tin về thị trường để có thể đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp. Giá các mặt hàng khác như cà phê, ca cao, sầu riêng đang hấp dẫn hơn giá tiêu rất nhiều, nên nông dân cũng không mặn mà mở rộng diện tích trồng cây tiêu.
Các quy định về bảo vệ môi trường tại EU ngày càng khắt khe, nên việc quan trọng hiện nay là tăng chất lượng hồ tiêu để có thể xuất khẩu, thay vì việc mở rộng canh tác.
NedSpice dự đoán, diện tích trồng hồ tiêu toàn cầu dự kiến tăng từ năm 2025 trở đi, nhưng loại cây trồng này đang không có nhiều lợi thế cạnh tranh như cà phê và sầu riêng.
*Thông tin mang tính tham khảo. Giá có thể thay đổi tùy theo từng thời điểm, từng địa phương.
Nguồn: Báo Công Thương
Trong tổng kim ngạch cà phê xuất khẩu khoảng gần 3,26 tỷ USD nửa đầu năm 2024, thì cà phê Robusta chiếm vị trí chủ đạo với kim ngạch khoảng trên 2,53 tỷ USD.
Doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 35% thị phần
Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam cho biết, trong tháng 6/2024, Việt Nam xuất khẩu khoảng trên 75.500 tấn cà phê, kim ngạch xuất khẩu khoảng 351,72 triệu USD, khối lượng giảm khoảng 46,7% và kim ngạch giảm khoảng 7,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Xét theo từng loại cà phê xuất khẩu, trong tháng 6/2024, có thể thấy chủ yếu vẫn là cà phê Robusta với 55.594 tấn, kim ngạch khoảng 227,85 triệu USD, còn cà phê nhân Arabica xuất khẩu 6.341 tấn, kim ngạch khoảng 10,13 triệu USD. Cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu khoảng 10.900 tấn (chưa quy đổi ra cà phê nhân), kim ngạch trên 86,1 triệu USD (khối lượng cà phê rang xay và hòa tan chiếm khoảng 14,4% và kim ngạch chiếm khoảng 24,5% tổng các loại cà phê xuất khẩu).
Về thị trường xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam trong tháng 6/2024, ngoài số lượng đang ở kho ngoại quan thì Đức dẫn đầu với khối lượng 7.176 tấn, Italy thứ 2 với 5.571 tấn, Nhật Bản thứ 3 với 4.886 tấn, Thái Lan thứ 4 với 3.599 tấn, Nga thứ 5 với 3.554 tấn, Malaysia thứ 6 với 3.339 tấn, Phillippines thứ 7 với 2.978 tấn, Tây Ban Nha thứ 85 với 2.872 tấn, Trung Quốc thứ 9 với 2.804 tấn và Hoa Kỳ thứ 10 với 2.443 tấn.
Ông Nguyễn Nam Hải - Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam - thông tin, trong 6 tháng đầu năm 2024, Việt Nam xuất khẩu khoảng trên 903.000 tấn cà phê, kim ngạch xuất khẩu khoảng gần 3,26 tỷ USD, giảm 10,5% về khối lượng nhưng kim ngạch tăng 36,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Xét theo từng loại cà phê xuất khẩu, trong 6 tháng đầu năm 2024, có thể thấy chủ yếu vẫn là cà phê Robusta với gần 768.800 tấn, kim ngạch khoảng trên 2,53 tỷ USD, còn cà phê nhân Arabica xuất khẩu 38.081 tấn, kim ngạch khoảng trên 153,63 triệu USD, cà phê nhân đã khử cafein xuất khẩu 18.252 tấn, kim ngạch trên 76,29 triệu USD.
Cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu khoảng 74.746 tấn (chưa quy đổi ra cà phê nhân), kim ngạch trên 490 triệu USD (khối lượng cà phê rang xay và hòa tan chiếm khoảng 8,3% và kim ngạch chiếm khoảng 15,0% tổng các loại cà phê xuất khẩu).
6 tháng, 10 doanh nghiệp dẫn đầu về khối lượng xuất khẩu cà phê nhân sống là: Vĩnh Hiệp, Simexco Daklak, Louis Dreyfus Company Việt Nam, Intimex Group, Tuấn Lộc Commodities, Intimex Mỹ Phước, Olam Việt Nam, NKG Việt Nam, Sucafina Việt Nam và Phúc Sinh.
Trong tổng số các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân sống thì các doanh nghiệp FDI chiếm thị phần khoảng 35% tổng khối lượng xuất khẩu cà phê nhân sống và chiếm khoảng 34,5% về giá trị kim ngạch; trong khi đó, các doanh nghiệp ngoài Hiệp hội chiếm thị phần khoảng 22,8% về khối lượng và khoảng 23,0% kim ngạch.
Cũng theo ông Nguyễn Nam Hải, xét về xuất khẩu cà phê rang xay hòa tan trong 6 tháng đầu năm 2024 thì 10 doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu về kim ngạch có thể kể đến là: Outspan Việt Nam, Nestlé Việt Nam, Cà phê Ngon, Tập đoàn Trung Nguyên, Iguacu Việt Nam, URC Việt Nam, Tata Việt Nam, Sucafina Việt Nam, ILD Coffee Việt Nam và Lựa chọn Đỉnh. Các doanh nghiệp FDI chiếm thị phần khoảng 77,2% về kim ngạch xuất khẩu cà phê rang xay hòa tan tan trong 6 tháng đầu năm 2024, còn các doanh nghiệp ngoài Hiệp hội chiếm thị phần khoảng 75,6% về kim ngạch.
Về thị trường xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2024, ngoài số lượng đang ở kho ngoại quan thì Đức dẫn đầu với khối lượng 109.514 tấn, Italy thứ 2 với 86.174 tấn, Tây Ban Nha thứ 3 với 62.787 tấn, Nhật Bản thứ 4 với 56.084 tấn, Hoa Kỳ thứ 5 với 50.254 tấn, Nga thứ 6 với 46.837 tấn, Indonesia thứ 7 với 32.047 tấn, Hà Lan thứ 8 với 29.298 tấn, Bỉ thứ 9 với 26.163 tấn và Algeria thứ 10 với 25.353 tấn.
Ở chiều ngược lại, về nhập khẩu cà phê của Việt Nam, trong tháng 6 năm 2024, Việt Nam nhập khẩu khoảng 62.234 tấn với kim ngạch trên 230,42 triệu USD, trong đó nhập khẩu cà phê nhân sống trên 55.000 tấn, kim ngạch gần 185,48 triệu USD.
Dự báo, xuất khẩu cà phê sẽ thu về trên 5 tỷ USD
Niên vụ thu hoạch cà phê hàng năm được tính từ tháng 10 năm trước (thời điểm bắt đầu thu hoạch cà phê vụ mới) đến hết tháng 9 năm sau. Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), diện tích cà phê cả nước hơn 710 nghìn ha trong niên vụ 2022 - 2023, sản lượng cà phê thu hoạch gần 1,8 triệu tấn.
Niên vụ 2023 - 2024, diện tích trồng cà phê là 709.041 ha, do các vùng trồng cà phê lớn đều diễn ra hạn hán và sâu bệnh khiến sản lượng cà phê giảm 20% so với niên vụ trước, xuống còn 1,47 triệu tấn. Đây là mức thấp nhất trong 4 năm.
Theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, mặc dù lượng cà phê xuất khẩu trong nửa đầu năm 2024 giảm mạnh, nhưng tính chung trong 9 tháng đầu năm của niên vụ 2023 - 2024, lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 25,25 triệu bao (tương đương 1,52 triệu tấn, tăng gần 7,6% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ông Nguyễn Nam Hải cho biết, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu khiến khô hạn xảy ra không chỉ ở Tây Nguyên (vùng trọng điểm trồng cà phê của Việt Nam) mà còn khắp toàn cầu, vì vậy, tổng nguồn cung cà phê trên thế giới giảm, mạnh đã đẩy giá cà phê tăng cao kỷ lục từ trước tới nay.
Tại Việt Nam trong những năm vừa qua, giá cà phê rất thấp, chỉ khoảng 40.000 đồng/kg, do đó sự đầu tư của nông dân cho cây trồng này cũng thấp, nhiều hộ đã chuyển đổi diện tích cây cà phê sang cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn như sầu riêng, bơ, chanh dây… Đây là yếu tố làm giảm mạnh sản lượng cà phê thu hoạch. Ngoài ra, hiện một số diện tích trồng cà phê đã già cỗi mà chưa kịp tái canh nên ảnh hưởng lớn đến sản lượng.
Trong thời gian qua, tại các vùng trồng cà phê Việt Nam đã chứng kiến giá cà phê tăng "phi mã", từ mốc 40.000 đồng/kg vào đầu năm 2023, đã vọt lên 120.000 đồng vào tháng 5/2024. Trong tháng 6/2024, giá cà phê trong nước chững lại, duy trì ở mức 117.000 – 119.000 đồng/kg. Bước sang tháng 7/2024, giá cà phê trong nước đã tiếp tục tăng và đang đứng quanh mức 121.000 – 122.000 đồng/kg, cao gấp hai lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo các chuyên gia trong ngành, vụ cà phê mới phải đến tháng 10, tháng 11 mới bắt đầu thu hoạch. Nguồn cung cà phê của Việt Nam thiếu hụt, trong khi các nhà đầu cơ bắt đầu tích trữ hàng nên giá cà phê quý III dự báo sẽ tiếp tục đứng ở mức cao.
Hiện cà phê Việt Nam có mặt ở hơn 70 quốc gia, vùng lãnh thổ và Việt Nam vẫn đang là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo năm 2024, kim ngạch xuất khẩu cà phê chắc chắn sẽ vượt trên 5 tỷ USD, thậm chí có thể lên tới 6 tỷ USD - mức cao nhất trong lịch sử.
Nguồn Vietnambiz
Tại thị trường trong nước, giá tiêu giảm 1.000 - 5.000 đồng/kg. Giá cao su trên hai sàn giao dịch thế giới cùng giảm.
Tại thị trường trong nước
Ghi nhận mới nhất, giá tiêu hôm nay giảm cao nhất 5.000 đồng/kg.
Cụ thể, sau khi giảm 5.000 đồng/kg, thương lái tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Phước đang cùng thu mua hồ tiêu với giá 150.000 đồng/kg.
Sau khi giảm lần lượt 3.000 đồng/kg và 5.000 đồng/kg, hai tỉnh Đồng Nai và Gia Lai cùng đưa giao dịch về chung mức 149.000 đồng/kg.
Giá hồ tiêu tại Đắk Nông và Đắk Lắk được ghi nhận ở mức 151.000 đồng/kg, giảm lần lượt 1.000 đồng/kg và 3.000 đồng/kg.
|
Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với hôm qua (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
151.000 |
-3.000 |
|
Gia Lai |
149.000 |
-5.000 |
|
Đắk Nông |
151.000 |
-1.000 |
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
150.000 |
-5.000 |
|
Bình Phước |
150.000 |
-5.000 |
|
Đồng Nai |
149.000 |
-3.000 |
Trên thị trường thế giới thế giới
Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) vào ngày 4/7 (theo giờ địa phương), giá giao dịch tiêu đen Lampung (Indonesia) tăng 0,28%, trong khi giá thu mua tiêu đen Brazil ASTA 570 và giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA duy trì ổn định so với ngày 3/7.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới (ĐVT: USD/tấn) |
||
|
Ngày 3/7 |
Ngày 4/7 |
% thay đổi |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.109 |
7.129 |
+0,28 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
7.250 |
7.250 |
0 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
7.500 |
7.500 |
0 |
Cùng thời điểm khảo sát, giá thu mua tiêu trắng Muntok tăng 0,28% và giá tiêu trắng Malaysia ASTA không có thay đổi mới.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới (ĐVT: USD/tấn) |
||
|
Ngày 3/7 |
Ngày 4/7 |
% thay đổi |
|
|
Tiêu trắng Muntok |
9.052 |
9.077 |
+0,28 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
8.800 |
8.800 |
0 |
Theo Trung tâm Xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI), châu Âu không sản xuất hồ tiêu nên tiêu thụ của khu vực chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu.
Cơ quan này cũng cho biết, có đến 95% lượng hồ tiêu nhập khẩu vào EU được tiêu thụ tại các nước trong khu vực và chỉ 5% trong số đó được tái xuất sang các nước ngoài châu Âu.
Tiêu thụ tiêu đen tại châu Âu được cho là sẽ tăng trưởng ổn định trong thời gian tới, với mức tăng dự kiến vào khoảng 0,5% năm 2023 và 1,8% trong năm 2024.
CBI dự báo nhập khẩu hồ tiêu của các nước châu Âu sẽ tăng trưởng 1-2% mỗi năm. Thị trường châu Âu mang lại lợi thế về giá so với các thị trường châu Á đối với tiêu đen chất lượng cao và được sản xuất bền vững.
Trong khi đó, Bộ Công Thương dẫn nguồn tin từ Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), cho biết EU là thị trường tiềm năng cho xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này, ngành hồ tiêu phải đi theo hướng sản xuất bền vững, bởi ngày càng nhiều người tiêu dùng châu Âu yêu cầu các chứng nhận đảm bảo sản phẩm có tính bền vững.
Gầy đây, yêu cầu và quy định của thị trường EU về rào cản phi thuế quan tiếp tục gia tăng và ngày càng khắt khe. Thị trường này cũng liên tục có những cảnh báo về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như gia tăng tần suất kiểm soát và siết chặt quy định MRLs đối với thực phẩm nói chung, trong đó bao gồm cả gia vị của Việt Nam.
Hiện nay EU đã ban hành hơn 500 tiêu chí về MRL và tiếp tục ngày càng có nhiều tiêu chí mới ban hành. Những tiêu chí ban hành sau ngày càng khó khăn, ngặt nghèo hơn. Đồng thời diện hoạt chất được cho phép quy định tồn lưu cũng rộng hơn.
Nguồn: Vietnambiz
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "