Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá cà phê trong nước dao động từ 43.500 - 44.100 đồng/kg. Giá cà phê thế giới được dự báo có thể tiếp tục duy trì đà tăng nhẹ trong tuần này.
Mặc dù được nhận định sẽ có một tuần khó khăn khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất hồi giữa tuần trước kéo theo dự báo nhiều ngân hàng Trung ương các quốc gia sẽ theo đó tăng lãi siết lạm phát. Tuy nhiên, nhìn lại tuần qua (từ 06/2 – 11/2) giá cà phê ở cả thị trường trong nước và thế giới đều có một tuần tăng tốt.
Giá cà phê trong nước dù liên tục biến động lên xuống nhưng xu hướng chủ đạo là tăng. Giá cà phê ở thời điểm cuối tuần so với phiên giao dịch đầu tuần đã tăng 1.100 - 1.200 đồng/kg, vượt mốc 44.000 đồng/kg, duy trì đến ngày hôm nay (13/2).
Tương tự, giá cà phê thế giới cũng có một tuần tăng điểm, dù mức tăng nhẹ nhàng. Giá cà phê Robusta ở ngày giao dịch cuối tuần so với ngày đầu tuần tăng từ 9 -18 USD/tấn tùy kỳ hạn giao hàng. Cà phê Arabica cũng có một tuần giữ vững được điểm giao dịch và tăng nhẹ từ 1,15 -1,95 cent/lb.
Theo các chuyên gia, tỷ giá đồng Reais (Brasil) tăng nhẹ trong khi xuất khẩu cà phê hạt của Brasil tháng 01/2023 giảm so với cùng kỳ năm trước đã hỗ trợ giá cà phê Arabica trên sàn New York đứng vững và có xu hướng tăng trở lại.
Cùng với đó, theo Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê tháng 01/2023 của Việt Nam so với cùng kỳ năm trước đã giảm mạnh tới 38,42%. Điều này hỗ trợ giá cà phê Robusta trên sàn London tiếp đà tăng nhẹ trong tuần.
Giá cà phê hôm nay
Giá cà phê hôm nay, ngày 13/2 ở thị trường trong nước tại khu vực Tây Nguyên ghi nhận dao động từ 43.500 – 44.100 đồng/kg.
Cụ thể cà phê tại tỉnh Đắk Lắk được thu mua với giá cao nhất đạt 44.000 – 44.100 đồng/kg. Tiếp sau là cà phê tại tỉnh Gia Lai, Đắk Nông đạt trung bình 44.000 đồng/kg; cà phê tại tỉnh Lâm Đồng được thu mua với gia trung bình 43.500 đồng/kg. Giao dịch cà phê tại tỉnh Kon Tum không sôi động, tuy nhiên, giá thu mua cà phê vẫn dao động từ 43.900 – 44.000 đồng/kg.
Giá cà phê Robusta trên sàn London (Anh) tại ở phiên giao dịch gần nhất trước thời điểm mở cửa ngày 13/2 ghi nhận ở tất cả các kỳ hạn giao hàng đều trên 2.000 USD/tấn. Cụ thể, cà phê giao hàng tháng 03/2023 giao dịch ở mức 2.040 USD/tấn; kỳ hạn giao cà phê tháng 05/2023 đạt 2.039 USD/tấn; giao hàng tháng 07/2023 đạt 2.024 USD/tấn và giao cà phê tháng 09/2023 đạt 2.001 USD/tấn.
Ngày hôm nay, 13/2 là ngày President’Day - Ngày tôn vinh các đời Tổng thống Mỹ nên sàn New York đóng cửa và sẽ hoạt động trở lại vào ngày mai.
Giá cà phê Arabica trên sàn New York (Mỹ) tại phiên giao dịch gần nhất trước ngày 13/2 ghi nhận cà phê giao hàng tháng 03/2023 giá khớp đạt 174,75 cent/lb; kỳ hạn giao hàng tháng 05/2023 đạt 174,65 cent/lb; giao hàng tháng 7/2023 đạt 174,3 cent/lb và giao cà phê tháng 09/2023 đạt 173,2 cent/lb.
Nguồn: Báo Công Thương
Giá tiêu hôm nay 13/2 tại thị trường trong nước duy trì ổn định trong phiên đầu tuần. Hiện giá tiêu trong nước dao động quanh mốc từ 59.000 – 62.000 đồng/kg.
Cụ thể, giá tiêu hôm nay tại Gia Lai đang được thương lái thu mua ở mức 59.000 đồng/kg. Tương tự, tại Đắk Lắk, Đắk Nông giá tiêu hôm nay duy trì ở mức 60.500 đồng/kg.
Trong khi đó, tại khu vực Đông Nam bộ, giá tiêu hôm nay cũng đi ngang. Hiện giá tiêu tại Bà Rịa Vũng Tàu đang được thương lái thu mua ở mức 62.000 đồng/kg. Với mức giá này, hiện giá tiêu tại bà Rịa Vũng tàu tiếp tục dẫn đầu cả nước. Tại Bình Phước, Đồng Nai giá tiêu hôm nay đứng ở mức 61.500 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 3.624; giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 2.900 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA giữ mức 4.900 USD/tấn. Giá tiêu trắng Muntok 6.110 USD/tấn; giá tiêu trắng Malaysia ASTA vẫn ở 7.300 USD/tấn. Giá tiêu đen Việt Nam giao dịch ở 3.250 - 3.350 USD/tấn với loại 500 g/l và 550g/l; giá tiêu trắng ở mức 4.750 USD/tấn
Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, trong tháng 1/2023 xuất khẩu tiêu của Việt Nam đạt 12.653 tấn, tiêu đen đạt 11.351 tấn, tiêu trắng đạt 1.302 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 43,6 triệu USD, tiêu đen đạt 37,1 triệu USD, tiêu trắng đạt 6,5 triệu USD, so với tháng 1/2022, lượng xuất khẩu giảm 21%.
Số liệu xuất nhập khẩu tháng 1/2023 giảm cũng là điều dễ hiểu, do năm nay trùng với thời điểm Tết Nguyên đán, năm ngoái Tết Nguyên đán rơi vào tháng 2/2022.
Sau Đăk Nông, Bà Rịa Vũng Tàu, hiện một số địa phương ở Gia Lai, Bình Phước cũng ghi nhận tình trạng giảm sản lượng. Theo Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đắk Song, hiện huyện có 13.795 ha hồ tiêu, trong đó, hồ tiêu kinh doanh 12.503 ha, tập trung ở các xã Thuận Hạnh, Thuận Hà, Nâm N’Jang, Đắk N’Drung, Nam Bình và Trường Xuân. Năm nay, hồ tiêu mất mùa, rớt giá khiến nông dân ở Đắk Song thu không đủ chi phí sản xuất.
Nói về nguyên nhân hồ tiêu mất mùa, nhiều nông dân cho biết, năm ngoái mưa sớm, mùa khô ngắn, nên không có thời gian ép nước để kích thích cây ra hoa. Thời gian sau đó lại mưa kéo dài liên tục, hoa hồ tiêu không phân hóa được, dẫn tới không đậu quả. Nhiều nông dân dù có kinh nghiệm và kỹ thuật chăm sóc hồ tiêu, nhưng vẫn không khắc phục được.
Bảng giá tiêu hôm nay 13/2/2023
|
Địa phương |
ĐVT |
Giá mua của thương lái (đồng) |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
kg |
59.000 |
- |
|
Đắk Lắk |
kg |
60.500 |
- |
|
Đắk Nông |
kg |
60.500 |
- |
|
Bình Phước |
kg |
61.500 |
- |
|
Đồng Nai |
kg |
61.500 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
kg |
62.000 |
- |
Nguồn: Hà Duyên - Báo Công Thương
Năm 2022, nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế khi tăng trưởng trên các mặt sản xuất, xuất khẩu, góp phần ổn định vĩ mô trong nước và an ninh lương thực toàn cầu. Với nền tảng như vậy, bước sang năm 2023, nhiều mặt hàng nông sản tiếp tục ghi nhận tín hiệu vui trong tháng đầu tiên của năm mới.
Điểm sáng từ thị trường Trung Quốc
Ngay trong tháng đầu tiên của năm 2023, xuất khẩu nông sản đã có những tín hiệu khởi sắc. Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Vina T&T Group cho biết, đơn hàng xuất khẩu trái cây tươi trong tháng 1 ghi nhận tăng trưởng 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Các sản phẩm truyền thống duy trì đơn hàng ổn định. Đáng chú ý, trái bưởi xuất sang Mỹ và sầu riêng vào Trung Quốc đóng góp vào phần tăng trưởng này.
Thậm chí, các mặt hàng mới gia nhập đường đua xuất khẩu chính ngạch có đơn hàng bổ sung theo ngày. "Một là do nhu cầu của thị trường, sức mua tại châu Âu và Mỹ đang phục hồi nhanh hơn so với dự báo rằng phải đến cuối quý II/2023. Trong khi đó, mặt hàng trái cây tươi tiêu thụ nhanh do vậy đối tác đặt đơn mới theo ngày, nhất là từ thị trường Trung Quốc", ông Nguyễn Đình Tùng cho biết.
Theo ông Lê Bá Anh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản (Bộ NN&PTNT), việc Trung Quốc mở cửa biên giới, gỡ bỏ chính sách "Zero COVID" từ ngày 8/1/2023 thì hưởng lợi nhất chính là các ngành hàng nông sản tươi sống.
"Hàng tươi sống có giá trị cao, như cua, tôm hùm, tôm sú và tôm thẻ gần như chỉ xuất bằng đường bộ, mà trong giai đoạn Trung Quốc kiểm soát dịch 'Zero COVID' thì cửa khẩu ách tắc, hàng không xuất được. Do vậy khi họ mở cửa giao thương, thông quan các mặt hàng này thuận lợi hơn. Thứ hai là sức tiêu thụ của thị trường 1.4 tỷ dân bị kìm nén gần 3 năm qua, nay họ mở lại nhà hàng thì nhu cầu thủy sản tươi sống sẽ tăng mạnh", ông Lê Bá Anh nhận định.
Dẫn chứng cho cơ hội này, ông Nguyễn Thanh Hải, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thủy sản Hacaseafood cho biết, trong tháng 1, doanh nghiệp có gần 200 container hàng xuất sang thị trường Trung Quốc phục vụ dịp Tết Nguyên đán.
Việc mở cửa biên giới trở lại của Trung Quốc được đánh giá là điểm sáng cho xuất khẩu nông sản nước ta trong năm 2023 vì thị trường 1.4 tỷ dân đang chiếm hơn 17% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành.
Giá gạo xuất khẩu cao, nông dân có thêm động lực mở rộng diện tích
Trong khi các ngành hàng tươi sống tận dụng lợi thế địa lý để tăng mạnh đơn hàng xuất sang Trung Quốc thì nhiều ngành hàng nông sản có giá trị kinh tế cao tiếp tục vươn ra những thị trường khó tính, điển hình là hạt gạo.
Năm vừa qua, việc gạo ST25 được nhập khẩu chính ngạch, bày bán tại các siêu thị ở Nhật Bản, Trung Đông và châu Âu, thậm chí loại gạo có thương hiệu từ Việt Nam được chọn đưa vào bếp ăn Nội các Nhật Bản là minh chứng cho thấy sự dịch chuyển từ tư duy sản lượng sang chất lượng của ngành nông nghiệp.
Không chỉ được cấp phép nhập khẩu chính ngạch mà gạo thương hiệu Việt bán với giá rất cao. Ông Phạm Thái Bình, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An cho biết, năm vừa qua, giá gạo thơm xuất khẩu sang Trung Đông, châu Âu đạt mức bình quân 650 USD/tấn, riêng loại gạo ST24, ST25 có giá trên 1,000 USD/tấn. Đây là giá xuất khẩu cao đối với mặt hàng lúa gạo trong nhiều năm nay.

Khẳng định được thương hiệu ở các thị trường khó tính đã tạo đà cho gạo Việt ngay những ngày đầu năm 2023. Đơn cử như Công ty Trung An đã ký nhiều hợp đồng cung cấp gạo giao từ nay đến đầu quý II/2023 cho các thị trường Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, châu Âu, Australia và Mỹ, số lượng lên đến gần 1,500 container, tương đương khoảng 30,000 tấn, chủ yếu gạo chất lượng cao và gạo thơm.
"Nhu cầu về gạo chất lượng cao, gạo an toàn của người tiêu dùng trong nước và thế giới hiện nay rất nhiều. Cho nên tôi tin rằng, năm 2023, xuất khẩu gạo Việt Nam tiếp tục phát triển kể cả về chất lượng và giá trị. Giá gạo xuất khẩu đầu năm 2023 đang rất cao, chúng tôi bán với giá từ 600-1,250 USD/tấn, ngay cả gạo 100% tấm cũng bán với giá lên đến 468 USD/tấn", ông Phạm Thái Bình cho hay và tin tưởng năm 2023, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo sẽ thắng lớn.
Ông Đỗ Hà Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, thường cuối vụ giá gạo rất thấp, nên đối tác nhập khẩu căn cứ vào giá đó để đàm phán mua vụ Đông Xuân. Tuy nhiên, năm nay, cuối vụ chúng ta lại bán được giá khá cao nên các hợp đồng ký cho vụ Đông Xuân trong năm 2023 sẽ có giá tốt hơn. Quan trọng hơn, khi giá gạo tăng thì người nông dân có thêm động lực mở rộng diện tích, nâng cao năng suất và chất lượng.
Còn nhiều thách thức
Bước sang năm mới, cùng với cơ hội từ thị trường thì xuất khẩu các ngành hàng nông sản của nước ta được dự báo vẫn còn nhiều thách thức.
Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng lợi thế về địa lý, chi phí vận chuyển thấp, nhu cầu cao,… để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản vào thị trường Trung Quốc.
Tuy nhiên, thị trường Trung Quốc không còn là thị trường dễ tính, các tiêu chuẩn ngày càng khó hơn, nhất là có những quy định, điều chỉnh rất bất ngờ đối thủy sản nhập khẩu. Vì vậy, doanh nghiệp Việt phải có những thay đổi về quan điểm, tâm thế, tiếp cận sâu hơn vào thị trường Trung Quốc, xây dựng chiến lược chi tiết tới từng phân khúc địa phương nếu muốn tăng tỷ trọng vào thị trường này.
Còn ông Phạm Thái Bình thì cho rằng, vấn đề liên kết hợp tác, đoàn kết giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành hàng vẫn còn yếu. Còn tình trạng "gà nhà đá nhau" thì nông nghiệp nước nhà khó vươn tầm.
Trong khi đó, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến khuyến nghị, trên bất kỳ thị trường nào thì nông sản Việt cũng phải xây dựng chiến lược cạnh tranh về chất lượng, giá cả, thương hiệu.
Do vậy, điều cần làm ngay với sản xuất nông nghiệp trong nước là thực hiện tập trung sản xuất, nâng cấp chất lượng cho tất cả các ngành hàng nông sản theo tiêu chuẩn của các thị trường khó tính. Một trong những yêu cầu bắt buộc là truy xuất nguồn gốc.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, mã vùng trồng, ao nuôi, cơ sở chế biến, đóng gói phải được xác nhận. Liên kết hình thành vùng trồng, đảm bảo mã số vùng trồng đủ lớn và sản phẩm cung cấp ổn định cho thị trường cả về chất lượng và sản lượng. Quy trình Global GAP, VietGAP triển khai chặt chẽ từ con giống, cây giống. Mở rộng quan hệ thương mại song phương, hướng tới xuất khẩu chính ngạch, sản xuất hàng hóa quy mô lớn.
Làm được điều này, nông sản Việt mới có cơ hội giữ vững chỗ đứng và thị phần, gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường toàn cầu cũng như ngay trên sân nhà.
Nguồn: vietstock
GDP quý IV/2022 của Mỹ cho thấy nền kinh tế có thể đang tiến dần đến ổn định, cùng với một thị trường lao động rất tích cực. Khi thấy lạm phát giảm đều từ tháng 7/22 đến nay, nền kinh tế chứng kiến bật trở lại và giới đầu tư mạnh dạn vung tiền vào thị trường nhờ các điều kiện tài chính đã cơi nới đôi chút trong vài tháng qua.
Nhớ nửa cuối 2022, điều kiện tài chính tại thị trường hết sức hạn chế để Fed có thể chủ động lèo lái chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, phải công nhận rằng, qua đó, nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng với tốc độ rất tốt trong quý III và IV năm 2022, do tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp lịch sử.
Nền kinh tế Mỹ theo chiều thuận hay chiều nghịch?
Việc nới lỏng các điều kiện tài chính gần đây cho thấy môi trường kinh doanh không còn bị hạn chế như người ta tưởng. Nếu các điều kiện tài chính nới lỏng hơn nữa, nó có thể hỗ trợ ổn định và tăng trưởng kinh tế hơn, iều ngược lại nó cũng có thể dẫn đến sự bùng phát trở lại của lạm phát.
Tác động của việc nới lỏng các điều kiện tài chính đã dẫn đến sự phục hồi của nhiều loại hàng hóa, chẳng hạn như gỗ xẻ, đã tăng hơn 20% trong tháng này và các kim loại, như đồng, đã tăng hơn 10% trong tháng này, do xăng không chì cũng đã tăng gần 10% trong tháng này, đó là chưa kể hai sàn cà phê được nước lên theo. Robusta London tăng 171 USD/tấn hay 9,27% và arabica New York tăng 3.30 cts/lb hay tăng 1,98% trong tháng qua.
Vì vậy, với các điều kiện tài chính được nới lỏng, nền kinh tế Mỹ đang được giữ vững kết hợp rất tốt và các xung lực lạm phát đang quay trở lại. Vậy phải tự đặt câu hỏi liệu Fed nay mai có phải làm nhiều hơn nữa để tiêu diệt các xung lực lạm phát theo cách không biến mất hay không vội vàng.
Lãnh đạo Fed vàng Cleveland đang dự đoán CPI sẽ tăng 0,6% trong tháng 1 và 6,4% hàng năm. Đó sẽ là một tháng tăng tốc so tháng với tháng nhưng thực tế không thay đổi trên cơ sở hàng năm. Tháng 12/22, CPI giảm 0,1% so với tháng trước và giảm còn 6,5% so với cùng kỳ năm trước.
Rủi ro đáng kể là nếu Fed cần tăng lãi suất trên 5% vào năm 2023 vì thị trường, nhờ các điều kiện tài chính dễ dàng nên các mặt hàng như dầu thô có thể tăng cao hơn. Một số dấu hiệu cho thấy điều đó cũng có thể xảy ra, với việc giá sắp thoát ra khỏi giai đoạn tích lũy và tăng trở lại mức 90 đô la, tạo thêm một xung lực lạm phát khác cho một nền kinh tế đang còn vật lộn để phá tan chu kỳ lạm phát.
Điều này có thể chống lại thị trường về lâu dài vì thiếu chú ý đến sự gia tăng giá hàng hóa chính, giúp định hướng giá cả trong toàn bộ nền kinh tế.
Nhưng trong hoàn cảnh mà nền kinh tế Mỹ tiếp tục giữ vững, tỷ lệ thất nghiệp không tăng và lạm phát vẫn ở mức cao, thì Fed cần phải hành động nhiều hơn nữa, tức vẫn phải tăng lãi suất lên cao hơn.
Nhiều chuyên gia dự đoán mức tăng lãi suất đầu tháng 2/23 tối đa là 0,25% nhưng nếu Fed quyết định cao hơn, thì giá hàng hóa lại quay đầu xuống nhanh. Còn từ 0,15%-0,25% thì hãy xem như các quỹ đầu tư đã cấy giá trên các sàn hàng hóa như đã thấy.
NGUYỄN QUANG BÌNH
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "