PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Giá tiêu trong nước hôm nay không có thay đổi so với 1 ngày trước đó, giá tiêu kết thúc tuần với giá giao dịch cao nhất ở mức 59.500 đồng/kg.

+ Giá tiêu trong nước

Giá tiêu trong nước hôm nay duy trì đà đi ngang khi không có sự biến động so với ngày trước đó, mức giao dịch 59.500 đồng/kg là mức cao nhất cả nước ghi nhận tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tại tỉnh Bình Phước, giá tiêu hôm nay giao dịch ở mức 58.500 đồng/kg, không có thay đổi so với ngày hôm qua.

Giá tiêu hôm nay tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông, giá tiêu hôm nay không có biến động, ở mức 58.500 đồng/kg.

Giá tiêu hôm nay tại Đồng Nai ở mức 57.000 đồng/kg, không có thay đổi so với phiên giao dịch trước đó và là mức giao dịch thấp nhất cả nước.

Tại tỉnh Gia Lai, giá tiêu hôm nay ghi nhận ở mức 57.500 đồng/kg, giữ nguyên so với một ngày trước.

Địa phương Giá (đồng) Thay đổi so với 1 ngày trước (đồng)
Bà Rịa - Vũng Tàu 59.500 -
Bình Phước 58.500 -
Đắk Lắk 58.500 -
Đắk Nông 58.500 -
Đồng Nai 57.000 -
Gia Lai 57.500 -

+ Dự báo giá tiêu

Theo ghi nhận, vụ thu hoạch hồ tiêu 2023 đang bắt đầu tại một số huyện ở Đắk Nông và qua Tết sẽ vào vụ thu hoạch rộ, dự kiến sản lượng sẽ tăng nhẹ so với năm 2023.

Tính đến ngày 19/12, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam thống kê được xuất khẩu tiêu đạt hơn 222.000 tấn, kim ngạch đạt gần 988 triệu USD.

Ước tính xuất khẩu cả năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu chưa chạm mốc 1 tỷ USD như những năm trước.

Nguyên nhân do yếu tố khách quan kinh tế thế giới suy thoái ở nhiều thị trường trọng điểm. Xuất khẩu khó khăn làm giá hồ tiêu nguyên liệu tại Việt Nam liên tục giảm.

Bên cạnh đó, chi phí tăng khiến người trồng tiêu gặp nhiều khó khăn.

Bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch VPA, một trong những yếu tố tích cực trong hoạt động xuất khẩu hồ tiêu năm 2022 là nhờ Việt Nam đã ký hiệp định thương mại tự do với châu Âu (EVFTA) nên xuất khẩu hồ tiêu sang thị trường này có nhiều lợi thế về thuế suất 0% so với các đối thủ khác như Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka hay Campuchia.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất với thị trường này là các quy định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm thường xuyên thay đổi theo hướng ngày càng nghiêm ngặt hơn. Chính vì vậy, doanh nghiệp và người nông dân (hợp tác xã) cần liên kết chặt với nhau trong sản xuất để tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định và bền vững, đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường.

“Kỳ vọng trong năm 2023, với sự mở cửa của thị trường Trung Quốc sau dịch và sự phục hồi của thị trường hồ tiêu nói chung, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam sẽ trở lại danh sách cây trồng tỉ đô”, bà Liên nói.

Cập nhật giá hồ tiêu thế giới

Trên thị trường thế giới, giá tiêu hôm nay duy trì sự ổn định so với một ngày trước đó. Cụ thể, tại Indonesia, giá tiêu đen Lampung giữ ở mức 3.589 USD/tấn. Còn giá hạt tiêu trắng Muntok của quốc gia này neo tại mức 5.928 USD/tấn.

Giá tiêu đen Kuching ASTA của Malaysia tiếp tục giữ ở mức 4.900 USD/tấn; còn hạt tiêu trắng ASTA của quốc gia này đang ở mức giá 7.300 USD/tấn.

Đối với thị trường Brazil, giá hạt tiêu đen ASTA 570 vẫn giữ ở mức 2.500 USD/tấn.

Còn tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500g/l và 550g/l neo tại mức 3.050 - 3.150 USD/tấn. Và giá tiêu trắng giữ ở mức 4.550 USD/tấn.

Tuần này, giá tiêu thế giới biến động trái chiều. Theo đó, Cộng đồng Hồ tiêu thế giới (IPC) chỉ niêm yết tăng tại Sri Lanka. Trong khi đó, giá tiêu Ấn Độ ổn định, còn giá tiêu đen Indonesia có xu hướng giảm.

Trên thị trường, tiêu Kampot ở Campuchia được đánh giá cao nhất, là giống duy nhất được bảo vệ theo chỉ dẫn địa lý quốc gia (GI).

Ông Nguon Lay, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến Hồ tiêu Kampot (KPPA), cho biết giá mỗi kg hạt tiêu Kampot vẫn ổn định và không đổi trong vài năm, ở mức 15 USD cho tiêu đen, 25 USD cho tiêu đỏ và 28 USD cho tiêu trắng.

Ông Lay nhấn mạnh: “Bằng mọi giá, tôi muốn khuyến khích bất cứ ai muốn xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc nên đăng ký càng sớm càng tốt để thúc đẩy xuất khẩu”.

Theo Bộ Nông nghiệp Campuchia, tổng xuất khẩu hạt tiêu của nước này ghi nhận mức 7.704,25 tấn trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10, đánh dấu mức giảm 72,12% so với cùng kỳ năm ngoái từ 27.633,77 tấn.

Trong đó, Việt Nam là thị trường mua phần lớn ở mức 6.645,78 tấn (tương đương 86,26%), tiếp theo là Đức, Mỹ, Đài Loan và Pháp.

Nguồn: THANH LÂM (VTC)

Năm 2023, thị trường thế giới không chỉ tiếp tục nóng với những tin về kinh tế tài chính, hầu hết đều có vẻ bất lợi cho giá hàng hóa, mà còn yếu tố thời tiết, Nhiệt độ Trái đất ấm dần lên…

Nếu xảy ra hạn hán trên diện rộng, thì đấy là mối lo ngại lớn nhất, bao trùm hơn cả sương muối hay xảy ra tại Brazil. Vì sao? Vì sương giá chỉ ở Brazil, còn hạn hán thì cả một vùng sản xuất rộng lớn quanh vành đai Thái Bình Dương, và đương nhiên không chỉ cà phê mà còn các nông sản khác.

Theo NASA, năm 2022 là một trong những năm nóng nhất từng được ghi nhận trên Trái đất. Mô hình khí hậu khắp các vùng nhiệt đới Thái Bình Dương cứ lặp đi lặp lại thường xuyên – được gọi là ENSO (El Niño Southern Oscillation). Năm 2022 được cho là năm mát mẻ nhờ hiện tượng La Niña. Tức là các vùng biển ở quanh xích đạo Thái Bình Dương mát hơn đáng kể so với bình thường. Mát và nóng ở Thái Bình Dương lại ảnh hưởng đến các kiểu thời tiết trên khắp thế giới.

Hệ quả của La Niña là hạn chế nhiệt độ toàn cầu tăng vì đưa mưa lũ về nhiều. Điều này có nghĩa là—bất chấp những đợt nắng nóng, cháy rừng và hạn hán lan rộng gần đây—thế giới thực sự đã tránh được điều tồi tệ nhất. Điều đáng ngại là La Niña hiện nay sẽ kết thúc và sau đó chuyển sang El Niño, một hiện tượng bạn đọc đã quá quen tên. Hiện tượng này khiến vùng biển ở xích đạo Thái Bình Dương trở nên ấm hơn nhiều. Loài người cũng đã trải nghiệm thời tiết khắc nghiệt từng hoành hành khắp hành tinh của chúng ta vào năm 2021 và 2022, nhưng đối với El Niño sắp tới e đáng sợ hơn nhiều.

Các dự báo hiện tại cho thấy rằng La Niña sẽ tiếp tục kéo dài đến đầu năm 2023, khiến nó trở thành một trong những đợt dài nhất được ghi nhận (bắt đầu vào mùa xuân năm 2020). Sau đó, vùng xích đạo Thái Bình Dương sẽ bắt đầu ấm trở lại. Thường thời tiết phải nóng ở mức độ nào đó thì El Niño phát triển. Vậy thì năm tới 2023 vẫn có nguy cơ dù 2022 có La Niña làm mát nhưng lại là năm được ghi nhận nóng nhất.

Nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng 1,5°C được coi là mức ngưỡng bảo vệ, nhưng nếu vượt quá ngưỡng đó, thì khí hậu sẽ thay đổi và trở nên nguy hiểm. Nhìn trên con số này, khí hậu trước đây từng ổn định thì nay bắt đầu thay đổi nghiêm trọng, càng lúc càng phổ biến, ảnh hưởng đến tất cả mọi người và len lỏi vào mọi khía cạnh trong cuộc sống. Vào năm 2021, con số này (so với mức trung bình của những năm 1850–1900) là 1,2°C, trong khi vào năm 2019—trước khi xảy ra hiện tượng La Niña hiện nay—mức này đo được mức cao đáng ngại là 1,36°C. Giả sử như nền nhiệt tăng trở lại vào năm 2023, hoàn toàn có khả năng chúng ta sẽ chạm hoặc thậm chí vượt quá 1,5°C và nếu vậy thì đấy là lần đầu tiên chạm và vượt.

Hiểu cho chính xác, điều này có nghĩa là gì? Sẽ không ngạc nhiên khi thấy kỷ lục về nhiệt độ cao nhất được ghi nhận—thực tế là 54,4°C (129,9°F) ở Thung lũng Chết của California—bị phá vỡ. Điều này cũng hoàn toàn có thể xảy ra đâu đó tại Trung Đông hoặc Nam Á, nơi nhiệt độ có thể tăng lên trên 55°C. Nhiệt độ có thể vượt mốc 40°C một lần nữa ở Vương quốc Anh và lần đầu tiên vượt ngưỡng 50°C ở một số khu vực của Châu Âu.

Nhiệt độ cao hơn đồng nghĩa với hạn hán nghiêm trọng. Hạn hán làm giảm năng suất cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới là khó tránh khỏi. Vào năm 2022, thời tiết khắc nghiệt khiến sản lượng thu hoạch giảm ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Mỹ và Châu Âu, làm gia tăng tình trạng mất an ninh lương thực. Do vậy, dự trữ lương thực năm 2023 có thể thấp hơn bình thường. Nếu xảy ra một đợt thu hoạch kém nữa thì giá nông sản lại phải chỉnh dù các ngân hàng trung ương có lấy tiền bạc để “vá trời”. Kết quả sẽ là tình trạng thiếu lương thực ở hầu hết các quốc gia có thể dẫn đến tình trạng bất ổn dân sự, trong khi giá cả tăng cao ở các nước phát triển sẽ tiếp tục gây ra lạm phát và khủng hoảng chi phí sinh hoạt.

Biết rằng không nên lấy chuyện “trời làm” (El Niño) để trù ẻo nhưng quy luật lặp lại của thời tiết biết sao mà giải thích cho đúng.

Nếu như tình hình kinh tế tài chính không thuận cho giá cà phê trong năm 2023, thì có lẽ thời tiết sẽ can thiệp. Nếu có El Niño vào nửa cuối năm 2023, thì đấy là nguyên do giúp các nguồn thông tin hàng hóa bắn lên để các tay đầu cơ mua trở lại giúp giá cà phê tăng trên nền giá tốt hơn của nhiều mặt hàng nông sản nói chung.

Nguồn: NGUYỄN QUANG BÌNH

Giá cà phê trong nước dao động từ 40.100 – 40.900 đồng/kg. Giá cà phê thế giới trên sàn London kì vọng duy trì được giá khớp trên 1.900 USD/tấn.

Nhìn lại giá cà phê tuần qua (12/12 – 17/12):

Giá cà phê trong nước tuần qua duy trì được tính ổn định, dù có thay đổi bằng việc tăng hoặc giảm nhưng biên độ dao động rất nhỏ. Đến phiên cuối tuần, giữ được giá giao dịch như phiên mở cửa đầu tuần.

Giá cà phê thế giới trong tuần qua tăng trưởng tích cực hơn dự báo. Giá cà phê Robusta trên sàn London (Anh) phiên cuối tuần khớp giá 1.933 USD/tấn (kỳ hạn giao hàng tháng 01/2023), tăng 49 USD/tấn. Tương tự, cà phê Arabica trên sàn New York (Mỹ) phiên giao dịch cuối tuần cũng tăng 6,25 cent/lb.

Trong bối cảnh giao dịch cà phê không ổn định, và tuần qua Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất thì việc giá cà phê trong tuần qua tăng tích cực là điều ít chuyên gia dự đoán được.

Tuần qua, Fed đã tiếp tục tăng lãi suất thêm 0,5%, nâng biên độ lãi suất cho vay cơ bản lên tới 4,25 - 4,5%, mức cao nhất trong 15 năm qua. Mức tăng 0,5% này giống như các chuyên gia đã dự báo trước đó vì vậy thị trường chứng khoán không bị ảnh hưởng quá tiêu cực. Bên cạnh đó, nguồn cung cà phê giao hàng ngay thời điểm hiện tại và tháng 1/2023 được cho là có khả năng thiếu hụt. Đây là những lí do giúp giá cà phê, đặc biệt là cà phê Robusta kỳ hạn giao hàng tháng 01/2023 tăng rất tích cực trong tuần qua. Phải lưu ý là ngoài kỳ hạn giao tháng 01/2023 tăng trưởng thì các kỳ hạn giao tháng tháng 3,5,7/2023 biến động không đáng kể (chỉ tăng giảm 1 – 4 USD/tấn).

Giá cà phê hôm nay, 19/12:

Giá cà phê hôm nay ở thị trường trong nước ghi nhận đạt từ 40.100 – 40.900 đồng/kg. Cà phê tại tỉnh Lâm Đồng được thu mua với giá 40.100 – 40.200 đồng/kg. Ở tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Kon Tum cà phê nhân được thu mua với giá 40.700 – 40.800 đồng/kg. Giá cà phê ở tỉnh Đắk Nông và tỉnh Gia Lai là 40.800 – 40.900 đồng/kg.

Giá cà phê Robusta trên sàn giao dịch London (Anh) ở phiên giao dịch gần nhất trước thời điểm mở cửa ngày 19/12 đối với kỳ hạn giao hàng tháng 01/2023 đạt 1.933 USD/tấn. Cà phê giao tháng 03/2023 khớp giá 1.866 USD/tấn; kỳ hạn giao tháng 05/2023 có giá 1.836 USD/tấn và giao cà phê tháng 07/2023 là 1.821 USD/tấn.

Đối với cà phê Arabica trên sàn New York (Mỹ), ở phiên giao dịch gần nhất trước thời điểm mở cửa, giá cà phê đạt 164,4 cent/lb cho kỳ hạn giao hàng tháng 03/2023. Các kỳ hạn giao hàng còn lại lần lượt khớp giá như sau: tháng 5/2023 đạt 164,6 cent/lb, tháng 07/2023 đạt 164,65 cent/lb và giao tháng 09/2023 là 164,4 cent/lb.

Nguồn: Báo Công Thương online

Giá tiêu hôm nay (19/12) duy trì đi ngang tại các tỉnh trọng điểm trong nước. Trong đó, Bà Rịa - Vũng Tàu đang giữ mức cao nhất là 60.000 đồng/kg.

Giá tiêu trong nước

Theo khảo sát, giá tiêu vẫn neo trong khoảng 57.500 - 60.000 đồng/kg tại thị trường nội địa.

Trong đó, hai tỉnh Gia Lai và Đồng Nai đang ghi nhận mức giá thấp nhất là 57.500 đồng/kg.

Tiếp đó là hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông với cùng mức giá thu mua 58.500 đồng/kg.

Tương tự, giá tiêu hôm nay tại Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu cũng ổn định tại mức tương ứng là 59.000 đồng/kg và 60.000 đồng/kg.

Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua (Đơn vị: VNĐ/kg)

Thay đổi so với hôm qua (Đơn vị: VNĐ/kg)

Đắk Lắk

58.500

-

Gia Lai

57.500

-

Đắk Nông

58.500

-

Bà Rịa - Vũng Tàu

60.000

-

Bình Phước

59.000

-

Đồng Nai

57.500

-

Giá tiêu thế giới

Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) ngày 16/12 (theo giờ địa phương), giá tiêu thế giới so với ngày 15/12 như sau:

- Tiêu đen Lampung (Indonesia): ở mức 3.806 USD/tấn, tăng 0,08%

- Tiêu đen Brazil ASTA 570: ở mức 2.500 USD/tấn, không đổi

- Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA: ở mức 4.900 USD/tấn, không đổi

Tên loại

Bảng giá tiêu đen thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 15/12

Ngày 16/12

% thay đổi

Tiêu đen Lampung (Indonesia)

3.803

3.806

0,08

Tiêu đen Brazil ASTA 570

2.500

2.500

0

Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA

4.900

4.900

0

- Tiêu trắng Muntok: ở mức 5.923 USD/tấn, tăng 0,08%

- Tiêu trắng Malaysia ASTA: ở mức 7.300 USD/tấn, không đổi

Tên loại

Bảng giá tiêu trắng thế giới (ĐVT: USD/tấn)

Ngày 15/12

Ngày 16/12

% thay đổi

Tiêu trắng Muntok

5.918

5.923

0,08

Tiêu trắng Malaysia ASTA

7.300

7.300

0

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam tháng 11/2022 đạt 16,27 nghìn tấn, trị giá 60,31 triệu USD, theo báo cáo mới nhất từ Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương).

Con số này giảm 7,5% về lượng và giảm 9,4% về trị giá so với tháng 10/2022, so với tháng 11/2021 giảm 0,6% về lượng và giảm 20,5% về trị giá.

Tính chung 11 tháng năm 2022, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 208,17 nghìn tấn, trị giá 896,88 triệu USD, giảm 15,4% về lượng, nhưng tăng 3,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021.

Trong tháng 11/2022, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu của Việt Nam đạt mức 3.706 USD/tấn, giảm 2,1% so với tháng 10/2022 và giảm 20,1% so với tháng 11/2021. Tính chung 11 tháng năm 2022, giá xuất khẩu bình quân hạt tiêu của Việt Nam đạt mức 4.308 USD/tấn, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2021.

Xét về cơ cấu thị trường, tháng 11/2022 so với tháng 11/2021, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang nhiều thị trường chính giảm, gồm: Mỹ, Đức, Hà Lan, Philippines, Hàn Quốc, Anh và Thái Lan. Ngược lại, xuất khẩu hạt tiêu sang Ấn Độ, Các Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất và Nga tăng. 

11 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm 2021, xuất khẩu hạt tiêu sang hầu hết thị trường chính giảm, ngoại trừ Ấn Độ, Philippines, Hàn Quốc và Nga tăng.

Nguồn: vietnambiz

Page 67 of 235

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]