Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá tiêu hôm nay 19/6 tại thị trường trong nước chững lại và đi ngang. Hiện giá tiêu tại trong nước dao động quanh mốc 70.500 – 73.000 đồng/kg.
Giá tiêu hôm nay 19/6 tại thị trường trong nước không có biến động so với hôm qua. Hiện giá tiêu tại trong nước dao động quanh mốc 70.500 – 73.000 đồng/kg.
Theo đó, tại khu vực Tây Nguyên, giá tiêu dao động quanh mốc 70.500 – 71.500 đồng/kg. Cụ thể, giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) ngày 19/6 đang được thương lái thu mua ở mức 70.500 đồng/kg. Tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, giá tiêu duy trì quanh mức 71.500 đồng/kg.
Tương tự, tại khu vực Đông Nam bộ, giá tiêu hôm nay cũng không có biến động. Tại Bà Rịa Vũng Tàu, giá tiêu đang được thương lái thu mua ở mức 73.000 đồng/kg. Tại Bình Phước giá tiêu ở mức 72.500 đồng/kg; Đồng Nai 71.500 đồng/kg.
Như vậy, sau phiên điều chỉnh giảm, giá tiêu hôm nay chững lại và đi ngang tại các vùng trọng điểm. Thị trường tiêu trong nước vừa trải qua tuần biến động khi điều chỉnh tăng mạnh vào đầu tuần, giảm vào giữa tuần và đi ngang trong phiên cuối tuần.
Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung tại Indonesia đi ngang ở mức 3.748 USD/tấn; giá hạt tiêu trắng Muntok của quốc gia này duy trì ở mức 6.189 USD/tấn.
Giá tiêu đen Kuching ASTA của Malaysia duy trì ổn định ở mức 4.900 USD/tấn; còn hạt tiêu trắng ASTA của quốc gia này vẫn có giá 7.300 USD/tấn.
Đối với thị trường Brazil, giá hạt tiêu đen ASTA 570 ở về mức 2.950 USD/tấn.
Còn tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 và 550 g/l lần lượt ở mức 3.500 và 3.600 USD/tấn. Giá tiêu trắng xuất khẩu ở mức 5.000 USD/tấn.
Báo cáo tháng 5/2023 vừa được Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam công bố cho thấy, từ 1/1 đến 31/5/2023, Việt Nam xuất khẩu được 131.777 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 119.832 tấn, tiêu trắng đạt 11.945 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 408,9 triệu USD, tiêu đen đạt 354,1 triệu USD, tiêu trắng đạt 54,7 triệu USD.
So với cùng kỳ năm ngoái lượng xuất khẩu tiêu tăng 30% tương đương 30.438 tấn, tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu giảm 12,7% tương đương giảm 59,5 triệu USD. Giá xuất, khẩu bình quân tiêu đen 5 tháng đạt 3.443 USD/tấn, tiêu trắng đạt 4.955 USD/tấn, giảm lần lượt 21,7% và 18,4% so với cùng kỳ.
Xuất khẩu sang khu vực châu Á tiếp tục là điểm sáng đạt 78.907 tấn, tăng 77,2% và chiếm 59,9% thị phần xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam trong đó Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính đạt 46.169 tấn, chiếm 35% và tăng 1.668,9% so với cùng kỳ năm 2023.
Bảng giá tiêu hôm nay 19/6/2023
|
Địa phương |
ĐVT |
Giá mua của thương lái (đồng) |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
kg |
70.500 |
- |
|
Đắk Lắk |
kg |
71.500 |
- |
|
Đắk Nông |
kg |
71.500 |
- |
|
Bình Phước |
kg |
72.500 |
- |
|
Đồng Nai |
kg |
71.500 |
- |
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
kg |
73.000 |
- |
Hà Duyên
Giá tiêu hôm nay 12/6 tại thị trường trong nước tiếp tục xu hướng đi ngang. Hiện giá tiêu trong nước dao động quanh mốc 70.000 – 72.000 đồng/kg.
Giá tiêu hôm nay 12/6 tại thị trường trong nước tiếp tục xu hướng đi ngang tại các vùng trọng điểm. Hiện giá tiêu tại trong nước dao động quanh mốc 70.000 – 72.000 đồng/kg.
Theo đó, tại khu vực Tây Nguyên, giá tiêu hôm nay dao động quanh mốc 70.000 – 71.000 đòng/kg. Cụ thể, giá tiêu Chư Sê (Gia Lai) ngày 12/6 đang được thương lái thu mua ở mức 70.000 đồng/kg. Tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, giá tiêu duy trì quanh mức 71.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam bộ, giá tiêu hôm nay không có biến động. Tại Bà Rịa Vũng Tàu, giá tiêu đang được thương lái thu mua ở mức 72.000 đồng/kg. Tại Bình Phước giá tiêu ở mức 71.500 đồng/kg; Đồng Nai 70.500 đồng/kg.
Giá tiêu hôm nay tại thị trường trong nước chững và đi ngang. Giá tiêu nội địa vừa trải qua một tuần giảm mạnh tại tất cả các vùng trồng trọng điểm. Cùng với đó dòng vốn đang đổ về cà phê. Tuần này cà phê vượt 65.000 đồng/kg, mức giá kỷ lục cảu thị trường. Những yếu tố trên làm hạn chế đà tăng của hồ tiêu tuần này.
Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 3.758 USD/tấn; Giá tiêu trắng Muntok 6.207 USD/tấn.
Với các quốc gia còn lại, giá tiêu đi ngang. Giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 3.350 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA giữ mức 4.900 USD/tấn; giá tiêu trắng Malaysia ASTA vẫn ở 7.300 USD/tấn.
Giá tiêu đen Việt Nam giao dịch ở 3.500 USD/tấn với loại 500 g/l, loại 550 g/l mức 3.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 5.000 USD/tấn.
Theo báo cáo của IPC, sản lượng hồ tiêu toàn cầu năm 2022 ước đạt 537 ngàn tấn, giảm 2% so với năm 2021. Sản lượng giảm chủ yếu đến từ Indonesia và Việt Nam. Dự báo sản lượng hồ tiêu toàn cầu năm 2023 tiếp tục giảm khoảng 1% so với năm 2022, đạt khoảng 531 ngàn tấn.
So với cùng kỳ 2022, lượng xuất khẩu tiêu của một số quốc gia sản xuất trong 3 tháng đầu năm 2023 cho thấy chiều hướng khác nhau, tăng Việt Nam và Brazil, giảm mạnh ở Ấn Độ và Indonesia.
Dự báo sức mua hồ tiêu và gia vị của các thị trường châu Âu và Hoa Kỳ tiếp tục trầm lắng trong thời gian tới khi khủng hoảng kinh tế vẫn còn đang tiếp diễn. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là hạn hán sẽ vẫn tiếp tục tác động lớn đến việc duy trì và chăm sóc vườn tiêu của người nông dân.
Bảng giá tiêu hôm nay 12/6/2023
|
Địa phương |
ĐVT |
Giá mua của thương lái (đồng) |
Tăng/giảm so với hôm qua |
|
Chư Sê (Gia Lai) |
kg |
70.000 |
- |
|
Đắk Lắk |
kg |
71.000 |
- |
|
Đắk Nông |
kg |
71.000 |
- |
|
Bình Phước |
kg |
71.500 |
- |
|
Đồng Nai |
kg |
70.500 |
- |
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
kg |
72.000 |
- |
Nguồn: Hà Duyên - Báo Công Thương
Khả năng xảy ra El Nino đang đe dọa sản lượng cà phê robusta của Việt Nam và Indonesia. Trong khi đó, nhu cầu đối với loại cà phê này cũng tăng mạnh, đẩy giá lên cao.
Theo hãng tin CNBC, nguy cơ El Nino cao đang làm dấy lên lo ngại về sản lượng hạt cà phê robusta tại Việt Nam và Indonesia, từ đó đẩy giá lên cao.
Theo đơn vị nghiên cứu BMI của Fitch Solutions, hiện tượng thời tiết El Nino được dự báo đang đến gần sẽ đe dọa sản lượng cà phê ở Việt Nam và Indonesia - hai nước sản xuất cà phê robusta lớn.
So với hạt cà phê arabica, hạt cà phê robusta đắng, có tính axit cao và chứa nhiều caffein hơn. Báo cáo của BMI cho biết vụ mùa cà phê robusta của Brazil cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi hạn hán.
Đe dọa sản lượng
Hạt cà phê robusta thường được dùng cho cà phê hòa tan và espresso. Do đó, giá của những sản phẩm này có thể leo thang vì sức ép từ phía cung. Cùng với đó, nhu cầu đối với hạt robusta cũng đang tăng cao hơn bình thường do người tiêu dùng chuyển sang các sản phẩm thay thế giá rẻ hơn arabica.
El Nino thường mang đến thời tiết nóng, khô hạn và khó chịu hơn bình thường ở vùng nhiệt đới trung, đông Thái Bình Dương. Giới chuyên gia đang dự đoán El Nino có thể xảy ra vào nửa cuối năm nay.
"Trên khắp Đông Nam Á, hiện tượng El Nino liên quan đến lượng mưa dưới mức trung bình và nhiệt độ tăng cao. Cả hai đều làm giảm sản lượng cà phê", CNBC dẫn báo cáo của BMI nhận định.
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (USDA), Việt Nam, Indonesia và Brazil là 3 nước sản xuất cà phê robusta lớn nhất thế giới.
Theo các nhà phân tích, lượng mưa trong quý I ở Indonesia đã tác động tiêu cực đến chất lượng hạt cà phê. USDA dự báo sản lượng cà phê robusta sẽ giảm khoảng 1/5.
Còn theo ông Carlos Mera - Trưởng bộ phận Thị trường nông sản tại Robabank, sản lượng cà phê robusta sẽ giảm 10% xuống 11,2 triệu bao trong vụ thu hoạch sắp tới.
Theo thống kê của nhóm nghiên cứu, hồi năm 2016, tình trạng thiếu nước do El Nino ở cả Việt Nam và Indonesia đã khiến sản lượng toàn cầu sụt giảm gần 10%. "Trong một năm El Nino, không có gì lạ khi sản lượng cà phê robusta ở Việt Nam và Indonesia giảm 20%", CNBC dẫn lời ông Shawn Hackett - Chủ tịch công ty môi giới hàng hóa Hackett Financial Advisors - nhận định.
"Điều này có nghĩa là cung sẽ bị thắt chặt khá nghiêm trọng", ông cảnh báo.
Nhu cầu đang tăng lên
Hạt robusta chiếm 40% sản lượng cà phê trên thế giới. 60% còn lại thuộc về hạt arabia có giá cao hơn. Nhưng triển vọng kinh tế toàn cầu u ám đang thúc đẩy nhu cầu đối với hạt robusta.
Theo báo cáo của BMI, giá hạt cà phê robusta đang tăng lên khi người tiêu dùng chuyển sang loại cà phê này để tiết kiệm trong thời kỳ lạm phát.
Mới đây, giá cà phê robusta đã tăng vọt lên mức cao nhất trong vòng 15 năm là 2.783 USD/tấn. Ở chiều ngược lại, giá cà phê arabica rơi xuống mức thấp nhất kể từ năm 2019.
"Châu Á thích cà phê robusta hơn arabica. Nhu cầu đối với cà phê robusta đang tăng nhanh hơn nhiều cà phê arabica", ông Hackett cho biết.
Châu Á không phải khu vực duy nhất ưa chuộng robusta. "Nhập khẩu cà phê arabica đã chế biến ướt sụt giảm một phần do nguồn cung ít hơn. Nhưng việc nhu cầu chuyển sang cà phê robusta đang cho thấy thị trường châu Âu dần ưa chuộng cà phê giá rẻ hơn", bà Natalia Gandolphi, nhà phân tích tại HedgePoint Global Markets' Intelligence, bình luận.
Theo bà, trong giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 9/2024, thâm hụt cà phê robusta sẽ lên tới 4,16 triệu bao.
Nguồn: Thảo My - Zing news
Đây vẫn là một tuần đầy chộn rộn với những đồn đoán trước phiên họp của Ủy ban Kinh tế-Tài chính Fed, đồn xem lãi suất được quyết định tạm dừng tăng hay vẫn tăng, và nếu tăng thì bao nhiêu điểm phần trăm…dù nhiều người đang đặt cược Fed dừng tăng lãi suất (tạm thời).
Chỉ số giá trị đồng USD/DXY mở cửa sáng nay tăng 0,14% tại 104.12 điểm (8g22 VN). Ngay thời điểm đã nói, giá dầu thô tăng do Ả rập Saudi cam kết cắt giảm khai thác, giá vàng giảm về 1962.50 USD/ounce (-0,35%), giá nhiều sàn ngũ cốc đang tăng cộng với đường ăn, còn bông vải giảm 0,50%.
Tồn kho đạt chuẩn và vị thế kinh doanh cần xem lại tại đây để thấy thị trường có thể đi đâu. Xét về tồn kho đạt chuẩn, đang hỗ trợ giá. Xét về vị thế kinh doanh, giới đầu cơ trên sàn arabica có thể mua lại do đã thanh lý nhiều hợp đồng dư mua tuần trước, robusta thì đang ngắt ngư với lượng hợp đồng mua khống. Vậy thì, giá cách biệt giữa hai sàn có thể tăng tuần này vì arabica có khả năng bật lên.
London robusta tháng 09/23: 2542-25(2584/2535)
Suốt cả 7 phiên liền, giá robusta đi xà quần, hoạt động tích lũy. Tuần này, London muốn tăng phải bật khỏi 2584 để vươn qua 2600. Khi vượt được 2615 (tốt nhất là đóng cửa) thì có đợt tăng mới. Còn không, vẫn đi loanh quanh. Hướng xuống, khi nào mất 2500 mới tính chuyện.
Nếu như thụt khỏi 2535 để đóng cửa, có thể có một đợt giảm xuống hoặc ngay trong phiên hoặc cả đợt dài vài ba ngày.
–Hướng tăng: 2555/2572/2603/2621
-Hướng giảm: 2534/2523/2505/2480
New York arabica tháng 09/22: 177.7-2.55(184.6/176.6)
Đúng là sàn này rung lắc khủng khiếp. Nhìn vào đồ thị, như mất phương hướng. Nếu như để mất 173.1 thỉ thấy arabica rõ yếu và phải tìm lý do về mặt cung cầu. Chờ lên 190 thì phải qua truông 184.50 trở lên. Khu vực 180.50 đến 182.50 vượt được, có hướng lên. Nhưng phải thấy rằng khu vực 177.7 hiện nay là quan trọng, nếu không muốn rớt, phải giữ lấy nó.
-Hướng tăng: 181.90/182.65/184.75/187.65
-Hướng giảm: 176.5/174.65/171.6/169
==
NGUYỄN QUANG BÌNH
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "