Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá đóng cửa 2 sàn cà phê phái sinh 11/5/23
London tháng 7 & 9/23
2393-88(2500/2386)
2372-88(2478/2367)
New York tháng 7 & 9/23
183-2.95(186.55/182.3)
180.85-2.85(184.25/180.2)
Thông số ảnh hưởng giá cà phê
-Giá cách biệt 2 sàn arabica với robusta 07/23: 74,45 vs 73,41 cts/lb.
-Chỉ số DXY: 101,89 vs 101,23 điểm.
-Giá trị đồng nội tệ Reais Brazil (Brl) trong cặp tỷ giá UsdBrl: 4,95 vs 4,95. Mức thấp kỷ lục 5,99 Brl lập 8/5/2020!
Lời bàn về thị trường:
-Giá hai sàn kỳ hạn cà phê cùng rớt, robusta rớt về dưới 2400 để đóng cửa tại 2393 USD/tấn, giá arabica cũng rớt nhưng nhẹ hơn để nằm khu vực thấp 183 cts/lb.
-Giá cà phê rớt mạnh thế này sau một thời gian tích tụ dư mua là chuyện bình thường và đôi khi đó là chuyện hay. Sàn arabica có tồn kho đạt chuẩn giảm nhưng giá cũng giảm. Cho nên, biết nhìn đường lên thì cũng nên thấy trước đường xuống. Phiên hôm qua là một bước ngoặc của thị trường hàng hóa nói chung, cà phê robusta nói riêng. Sàn London và những người chơi trên sàn tài chính này đang lo Fed chưa dừng tăng lãi suất cho đến năm 2024 (xem thêm phía dưới). Điều này thực sự đáng ngại hơn là thiếu cà phê cung ứng từ đâu đó.
-Thông báo ngày hôm qua về lạm phát của Mỹ giảm nhẹ không thực sự kích thích thị trường… Nói cách khác, lạm phát của Mỹ giảm nhẹ trong tháng 4/23 đã không làm tăng hy vọng Fed Liên bang phá vỡ chiến dịch tăng lãi suất của họ. Một bằng chứng về sự hoài nghi từ phía các nhà đầu tư đang yêu cầu nhiều hơn để dự đoán lãi suất sẽ giảm trong năm 2024.
Sự sụp đổ của ngân hàng Mỹ Pacwest, giá trị cổ phiếu hôm qua có lúc -24% và -80% kể từ ngày 1 tháng 1/2023 làm dấy lên lo ngại về một cuộc khủng hoảng tài chính rộng lớn hơn. Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, chỉ số giá sản xuất của Hoa Kỳ tiến triển kém hơn dự kiến trong tháng 4/23 (+0,2% so với +0,3%).
-Brazil: Xuất khẩu cà phê tháng 4/23 đạt 2,72 triệu bao, giảm 11,9% so với tháng 3/23 và giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2022.
–Dự kiến giá cà phê nguyên liệu tại Tây Nguyên hôm nay 51,5-52,2 triệu đồng/tấn giảm so với hôm trước là 53,5-54,2 triệu đồng/tấn.
NGUYỄN QUANG BÌNH
Giá tiêu hôm nay (12/5) đồng loạt tăng tại các tỉnh trọng điểm trong nước. Hiện tại, Bà Rịa - Vũng Tàu đang là địa phương có mức giá cao nhất với 77.000 đồng/kg. Đối với cao su, giá kỳ hạn giảm với biên độ hơn 2% trong phiên sáng nay.
Giá tiêu trong nước
Theo khảo sát, giá tiêu tại thị trường nội địa được điều chỉnh tăng đồng loạt 1.000 đồng/kg so với hôm qua.
Cụ thể, hai tỉnh Gia Lai và Đồng Nai đang ghi nhận mức giá lần lượt là 74.000 đồng/kg và 74.500 đồng/kg.
Hồ tiêu tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông vẫn được thu mua với chung mức giá là 75.000 đồng/kg.
giá tiêu hôm nay tại Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu lần lượt neo tại mức 76.500 đồng/kg và 77.000 đồng/kg.
|
Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua (Đơn vị: đồng/kg) |
Thay đổi so với hôm qua (Đơn vị: đồng/kg) |
|
Đắk Lắk |
75.000 |
+1.000 |
|
Gia Lai |
74.000 |
+1.000 |
|
Đắk Nông |
75.000 |
+1.000 |
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
77.000 |
+1.000 |
|
Bình Phước |
76.500 |
+1.000 |
|
Đồng Nai |
74.500 |
+1.000 |
Giá tiêu thế giới
Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) ngày 11/5 (theo giờ địa phương), giá tiêu thế giới so với ngày 10/5 như sau:
- Tiêu đen Lampung (Indonesia): ở mức 3.572 USD/tấn, tăng 0,17%
- Tiêu đen Brazil ASTA 570: ở mức 2.950 USD/tấn, không đổi
- Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA: ở mức 4.900 USD/tấn, không đổi
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới (ĐVT: USD/tấn) |
||
|
Ngày 10/5 |
Ngày 11/5 |
% thay đổi |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
3.566 |
3.572 |
0,17 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
2.950 |
2.950 |
0 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
4.900 |
4.900 |
0 |
- Tiêu trắng Muntok: ở mức 6.056 USD/tấn, tăng 0,17%
- Tiêu trắng Malaysia ASTA: ở mức 7.300 USD/tấn, không đổi
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới (ĐVT: USD/tấn) |
||
|
Ngày 10/5 |
Ngày 11/5 |
% thay đổi |
|
|
Tiêu trắng Muntok |
6.046 |
6.056 |
0,17 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
7.300 |
7.300 |
0 |
Theo báo cáo tháng 4/2023 của Nedspice Group, vụ thu hoạch tại Việt Nam đã gần kết thúc, trong khi Campuchia đang vào giai đoạn cao điểm.
Ngoài ra, vụ thu hoạch ở Indonesia, Malaysia và miền Nam Brazil sẽ diễn ra trong 3 - 4 tháng tới.
Nedspice cho biết, sản lượng của Việt Nam năm nay lớn hơn năm ngoái, nhưng triển vọng trong những năm tới lại không mấy khả quan.
Theo ghi nhận, hầu như không có diện tích trồng mới nào trong những năm gần đây ở Việt Nam khi nông dân đang chuyển hướng sang các loại cây trồng khác cho thu nhập tốt hơn như sầu riêng, chanh leo và cà phê
Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại các quốc gia khác, dẫn đến sản xuất toàn cầu tiếp tục thấp hơn nhu cầu, tồn kho tại các nước trọng điểm giảm.
Ghi nhận trong ba tháng đầu năm cho thấy, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 76 nghìn tấn tiêu, tăng 43,4% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, riêng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 25.919 tấn, tăng đột biến hơn 12 lần.
Theo Nedspice, những con số này cho thấy một phần đáng kể của vụ mùa khoảng 185 nghìn tấn đã được bán.
Nguồn: vietnambiz
Giá tiêu hôm nay 8/5 trong khoảng 71.500 - 74.000 đồng/kg. Nhờ lực đẩy từ trong nước, giá tiêu xuất khẩu Việt Nam cũng được Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết tăng mạnh. Tuần qua, cả cà phê và hồ tiêu đều tăng tốt.
Tại tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 72.000 đồng/kg.
Tại tỉnh Gia Lai, giá tiêu hôm nay ở mức 71.000 đồng/kg.
Trong khi đó tại Đồng Nai, giá tiêu hôm nay ở mức 71.500 đồng/kg.
Tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giá tiêu hôm nay ở mức 74.000 đồng/kg.
Còn tại tỉnh Bình Phước giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 73.500 đồng/kg.
Giá tiêu hôm nay giữ ổn định tại các địa phương so với cùng thời điểm hôm qua. Thị trường đi ngang sau 4 ngày tăng liên tiếp. Tổng kết tuần, giá tiêu trong nước tăng 4.500 - 5.000. Nhờ lực đẩy từ trong nước, giá tiêu xuất khẩu Việt Nam cũng được Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết tăng mạnh.
Phiên cuối tuần trước, tổ chức này thông báo giá tiêu đen Việt Nam giao dịch ở 3.500 USD/tấn với loại 500 g/l, loại 550g/l mức 3.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 5.000 USD/tấn, tăng mạnh 6,43%, 7,64% và 3,4%. Đây là lần tăng mạnh hiếm có của IPC đối với giá tiêu Việt Nam trong suốt mùa thu hoạch đã qua.
Các chuyên gia nhận định, lực tăng của thị trường từ sau kỳ nghỉ lễ đến từ yếu tố thời tiết. Nắng nóng gay gắt tuần qua trên cả nước, nhất là các trồng trồng trọng điểm là Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, khiến giá cả các mặt hàng nông sản tăng cao, nhất là cà phê và hồ tiêu.
Cà phê tăng thêm 2.300 đồng/kg, trong khi hồ tiêu cũng có mức cao nhất là 5.000 đồng/kg tại Đắk Lắk, Đắk Nông. Nắng nóng khiến những lo ngại về sản lượng vụ mới gia tăng, ảnh hưởng đến nguồn cung trong dài hạn. Nhiều địa phương đã lên tiếng cảnh báo về việc năm nay có thể ra hoa muộn, khiến vụ thu hoạch năm sau bị ảnh hưởng về thời gian và sản lượng.
Nếu có El Niño vào nửa cuối năm 2023, sẽ là nguyên nhân các thị trường hàng hóa tăng vọt, trong đó có hồ tiêu.
Ngoài ra hồ tiêu đang được hồ trợ bởi thông tin sản lượng các nước sắp vào vụ thu hoạch dự báo giảm. Tổng sản lượng hồ tiêu toàn cầu 2023 ước đạt 526 ngàn tấn so với 537,6 ngàn tấn của năm 2022.
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhìn nhận, hoạt động xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam diễn ra sôi động hơn trong quý II/2023 nhờ nhu cầu tăng cao từ các thị trường Trung Quốc, Papua New Guinea, ASEAN, Thổ Nhĩ Kỳ..., bù đắp cho nhu cầu nhập khẩu vẫn trầm lắng của thị trường Mỹ và EU.
Các doanh nghiệp xuất khẩu tích cực mua nguyên liệu để bổ sung hàng tồn kho. Tuy vậy, lượng tiêu nguyên liệu đưa ra thị trường khá ít do nông dân và các nhà đại lý kỳ vọng giá tiêu sẽ tăng trong thời gian tới.
Nguồn: Kinh Tế Đô Thị
Giá đóng cửa 2 sàn cà phê phái sinh 03/5/23
London tháng 7 & 9/23
2424+0(2455/2404)
2401+0 (2431/2381)
New York tháng 7 & 9/23
185.5-1.25(188.35/182)
182.85-1.1(185.6/179.4)
Thông số ảnh hưởng giá cà phê
-Giá cách biệt 2 sàn arabica với robusta 07/23: 75,54 cts/lb.
-Chỉ số DXY: 101,04 vs 101,72 điểm.
-Giá trị đồng nội tệ Reais Brazil (Brl) trong cặp tỷ giá UsdBrl: 4,99. Mức thấp kỷ lục 5,99 Brl lập 8/5/2020!
Lời bàn về thị trường:
-Hai sàn cà phê có phiên đợi quyết định lãi suất Fed dao động khá mạnh. Chung cuộc sàn arabica giảm nhẹ -0,67% trong khi robusta đứng vững và không đổi so với hôm trước. Tại sao robusta vững như thế? Xem một trong những giả thiết phía dưới.
-Fed Liên bang tăng lãi suất thêm 0,25% hôm qua và báo hiệu có thể tạm dừng vào tháng 6/23. Fed nhấn mạnh rằng dữ liệu kinh tế sắp tới sẽ quyết định chính sách tiền tệ, còn Fed đã muốn dừng. Ủy ban kinh tế-tài chính (FOMC) tăng tỷ lệ chuẩn lên khoảng từ 5% đến 5,25% từ 4,75% lên 5% trước đó.
-Hợp đồng kỳ hạn dầu thô WTI đã giảm 4,91%% xuống khoảng 68,14 USD/thùng trong khi giao dịch đóng cửa hôm qua, mức chưa từng thấy kể từ cuối tháng 3/23, do các nhà đầu tư ngày càng lo lắng rằng lãi suất cao hơn và suy thoái kinh tế có thể dẫn đến nhu cầu năng lượng toàn cầu giảm.
-Giá vàng tăng mạnh lên 2072 USD/ounce khi đóng cửa do lo ngại suy thoái kinh tế gia tăng và những quan ngại dai dẳng về lĩnh vực ngân hàng ở Mỹ đã đè nặng lên đồng USD, đồng thời giới đầu tư mua vàng làm nơi tài sản trú ẩn an toàn.
-Các sàn chứng khoán Mỹ giảm nhiều.
-Đang nghi rằng sàn robusta cũng được chọn làm nơi trú ẩn vì arabica rủi ro gần “mặt trời”. Nhìn cách đi của sàn robusta, dùn arabica ngả nghiêng, robusta cứ vững như bàn thạch. Mừng!
–Dự kiến giá cà phê nguyên liệu tại Tây Nguyên hôm nay 52,3-52,8 triệu đồng/tấn, không đổi so với hôm trước nhưng cần ghi nhận một số hợp đồng nhỏ ký đến 54 triệu đồng/tấn.
-7%. Đây là mức lạm phát trong khu vực đồng euro vào tháng 4/23 so với Sau 6,9% trong tháng 3/23. Tăng vậy là nhẹ, nhưng xảy ra sau 4 tháng suy giảm (lạm phát trên 10% vào tháng 11 năm 2022).Nguyên nhân tăng là do lạm phát thực phẩm, rượu bia và thuốc lá ở mức cao và đặc biệt là giá năng lượng tăng trở lại trong hơn một tháng qua.
Lạm phát lõi lại giảm. Nếu loại trừ các yếu tố dễ biến động của giá năng lượng và giá lương thực, lạmphát cơ bản là 5,6%. Giảm nhẹ, rất nhẹ 0,1%. Tuy nhiên, đây là mức giảm đầu tiên ở khu vực đồng eurokể từ tháng 1 năm 2022. Theo Les Echos, một "sự nới lỏng đầu tiên trên mặt trận lạm phát ở khu vực đồng euro.
Tỷ lệ thất nghiệp ở Khu vực đồng Euro giảm nhẹ xuống 6,5% vào tháng 3/2023. Đây là tỷ lệ thấp nhất được ghi nhận và chỉ thấp hơn kỳ vọng của thị trường là 6,6%. Con số mới nhất này thể hiện sự sụt giảm so với tỷ lệ 6,8% của năm ngoái và phản ánh một thị trường lao động eo hẹp. Cùng với lạm phát cao, xu hướng này khiến Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có nhiều thời gian hơn trong việc thắt chặt chính sách tiền tệ của mình.
==
NGUYỄN QUANG BÌNH
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "