Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
4 tháng đầu năm 2023, Việt Nam xuất khẩu 716.580 tấn cà phê, đạt 1,62 tỷ USD, giảm lần lượt 5,5% và 4% so với cùng kỳ năm 2022.
Kim ngạch khẩu cà phê sang một số thị trường ghi nhận tăng trưởng tới 3 con số như Thái Lan +213% so với cùng kỳ năm 2022, Rumani với 123%, Algeria với 103%, Mexico với 583%, Myanmar với 111%, New Zealand với 105%, Chile với 159%.
Tuy nhiên, một số thị trường trên hiện vẫn chưa phải thị trường chủ lực của cà phê Việt Nam khi kim ngạch còn ở mức nhỏ, do vậy sự tác động lên tăng trưởng trị giá xuất khẩu chưa cao. Cụ thể, trị giá xuất khẩu cà phê sang Myanmar đạt 4,9 triệu USD, New Zealand đạt 1,7 triệu USD, Rumani đạt 3,7 triệu USD và Chile đạt 3,1 triệu USD.
Giá tiêu hôm nay (17/5) ổn định trở lại tại các tỉnh trọng điểm trong nước, dao động trong khoảng 73.000 - 76.500 đồng/kg, với mức cao nhất là tại Bà Rịa - Vũng Tàu
Theo khảo sát, giá tiêu tại các tỉnh trọng điểm trong nước vẫn duy trì ổn định trong khoảng 73.000 - 76.500 đồng/kg.
Trong đó, Gia Lai đang là địa phương có mức giá thu mua thấp nhất với 73.000 đồng/kg.
Kế đó là Đồng Nai, Đắk Lắk và Đắk Nông đang thu mua hồ tiêu với chung mức giá 74.000 đồng/kg.
Tương tự, giá tiêu hôm nay tại Bình Phước và Bà Rịa - Vũng Tàu lần lượt đi ngang tại mức 76.000 đồng/kg và 76.500 đồng/kg.
|
Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua (Đơn vị: đồng/kg) |
Thay đổi so với hôm qua (Đơn vị: đồng/kg) |
|
Đắk Lắk |
74.000 |
- |
|
Gia Lai |
73.000 |
- |
|
Đắk Nông |
74.000 |
- |
|
Bà Rịa - Vũng Tàu |
76.500 |
- |
|
Bình Phước |
76.000 |
- |
|
Đồng Nai |
74.000 |
- |
Giá tiêu thế giới
Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) ngày 16/5 (theo giờ địa phương), giá tiêu thế giới so với ngày 15/5 như sau:
- Tiêu đen Lampung (Indonesia): ở mức 3.628 USD/tấn, tăng 0,03%
- Tiêu đen Brazil ASTA 570: ở mức 2.950 USD/tấn, không đổi
- Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA: ở mức 4.900 USD/tấn, không đổi
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới (ĐVT: USD/tấn) |
||
|
Ngày 15/5 |
Ngày 16/5 |
% thay đổi |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
3.627 |
3.628 |
0,03 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
2.950 |
2.950 |
0 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
4.900 |
4.900 |
0 |
- Tiêu trắng Muntok: ở mức 6.171 USD/tấn, tăng 0,02%
- Tiêu trắng Malaysia ASTA: ở mức 7.300 USD/tấn, không đổi
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới (ĐVT: USD/tấn) |
||
|
Ngày 15/5 |
Ngày 16/5 |
% thay đổi |
|
|
Tiêu trắng Muntok |
6.170 |
6.171 |
0,02 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
7.300 |
7.300 |
0 |
Cơ quan Đàm phán Thương mại Quốc tế thuộc Bộ Thương mại Indonesia cho biết, kể từ cuối thế kỷ 16, Indonesia đã là nhà cung cấp quan trọng cho thương mại hồ tiêu thế giới. Đến nay, đây vẫn là một trong những mặt hàng đóng góp lớn nhất cho nguồn thu ngoại tệ của đất nước.
Theo số liệu của Cục Thống kê Trung ương Indonesia, giá trị hồ tiêu xuất khẩu của quốc gia này trong giai đoạn 2018 - 2022 vượt mốc 775 triệu USD với khối lượng trung bình khoảng 45 nghìn tấn.
Có thể thấy, Indonesia là quốc gia có diện tích trồng tiêu lớn thứ ba trên thế giới, nhưng một trong những thách thức mà thị trường nay đang phải đối mặt là tình hình giá tiêu đang ở mức thấp tại các trang trại.
Để hỗ trợ ngành hồ tiêu Indonesia phát triển, một trong những chương trình chính của Chính phủ Indonesia là tăng sản lượng hồ tiêu với giá trị gia tăng cao.
Hồ tiêu Indonesia với chất lượng cao được biết đến như một sản phẩm cao cấp so với các sản phẩm từ các nước sản xuất khác.
Do đó, những lợi ích này cần được thúc đẩy và duy trì trong nước và quốc tế thông qua các kỹ thuật trồng tiêu và chế biến tiêu tuân thủ các thực hành nông nghiệp tốt. Bước chiến lược này cũng phải được hỗ trợ bởi sự đổi mới sản xuất và chiến lược tiếp thị.
Nguồn: vietnambiz
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), toàn cầu ghi nhận thêm hơn 2,729 triệu ca mắc và 17.112 ca tử vong do COVID-19 trong 28 ngày qua, trong đó mức tăng mạnh ghi nhận ở phần lớn châu Á.
Theo báo cáo Người Lao Động nhận được từ WHO sáng 12-5, Tây Thái Bình Dương - khu vực dịch tễ mà tổ chức này xếp Việt Nam vào - dẫn đầu về số ca mắc mới với hơn 975.000 ca, tăng tới 35% so với chu kỳ trước.
Nguyên nhân chủ yếu do mức gia tăng ở các quốc gia ven Thái Bình Dương, vốn vừa "đảo chiều" sau chu kỳ sụt giảm vài tuần trước. Có 30% các quốc gia khu vực này báo cáo mức tăng mạnh trên 20%, trong đó cao nhất là Việt Nam, Mông Cổ và Lào.
Trong khi đó, 3 quốc gia có số ca mắc nhiều nhất là Hàn Quốc (361.691 ca), Nhật Bản (262.145 ca) và Úc (114.460 ca). Đây cũng là 3 quốc gia có số tử vong nhiều nhất. Tuy nhiên xét chung thì với 1.387 ca tử vong mới cho cả khu vực, xu thế giảm sâu về tử vong vẫn tiếp tục (giảm 33%).
Việt Nam báo cáo 46.230 ca trong 28 ngày, tăng 6.862%, tuy nhiên mức tăng khủng này chủ yếu do chu kỳ 28 ngày trước đó báo cáo chỉ 664 ca.
Châu Âu và châu Mỹ báo cáo lần lượt hơn 800.000 và hơn 647.000 ca mắc COVID-19 mới, giảm sâu 38% và 35% so với chu kỳ trước đó. Tuy nhiên hai khu vực này lại có số ca tử vong cao, lần lượt là 6.345 và 7.483 ca.
Đông Nam Á báo cáo số ca hạn chế so với mức tăng toàn khu vực, có thể do độ phổ biến của xét nghiệm kém hơn so với các khu vực kia: 258.500 ca mắc mới, tăng 223%. Khu vực dịch tễ này bao gồm Nam Á và một phần Đông Nam Á địa lý.
91% số quốc gia trong khu vực dịch tễ Đông Nam Á báo cáo mức tăng trên 20%, cao nhất là Myanmar (tăng 1.252%), Thái Lan (tăng 659%).
Ba quốc gia nhiều ca mắc nhất là Ấn Độ (tăng 222%), Indonesia (tăng 199%), Thái Lan, cũng là 3 quốc gia có số ca tử vong do COVID-19 cao nhất khu vực. Tuy nhiên Thái Lan chỉ có 27 ca tử vong; trong khi Ấn Độ và Indonesia chiếm hầu hết số tử vong của khu vực dịch tễ này, lần lượt là 715 và 407 ca.
Hai khu vực dịch tễ còn lại là Đông Địa Trung Hải và châu Phi báo cáo số ca hạn chế. Trong đó, Đông Địa Trung Hải, vốn bao gồm Tây Á địa lý là khu vực có số ca tăng mạnh trước đó, đang thể hiện xu hướng "hạ nhiệt".
Nguồn: Báo Người Lao Động online
Trong quý I, giá cà phê robusta giao trong tháng 5 tăng mạnh 14% lên 2.206 USD/tấn. Giá cà phê tăng trong bối cảnh thị trường lo ngại thiếu hụt nguồn cung trong ngắn hạn. Theo ICO, thị trường cà phê toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục thâm hụt trong năm thứ hai liên tiếp, với mức thâm hụt 7,3 triệu bao trong niên vụ 2022-2023.
- Trong báo cáo mới nhất từ Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO), sản lượng cà phê toàn cầu dự kiến sẽ phục hồi và tăng 1,7% lên mức 171,3 triệu bao trong niên vụ 2022-2023. Chủ yếu do sản lượng của Brazil, nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới tăng theo chu kỳ hai năm một, mặc dù giá phân bón tăng cao và điều kiện thời tiết bất lợi tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất cà phê toàn cầu.
ICO dự báo tăng trưởng tiêu thụ cà phê toàn cầu sẽ chậm lại trong niên vụ 2022-2023, với mức tăng 1,7% lên 178,5 triệu bao. Trong đó, tiêu thụ cà phê của châu Âu được dự báo chỉ tăng 0,1% trong niên vụ 2022-2023 sau khi tăng 6% trong niên vụ trước.
Mặc dù vậy, thị trường cà phê toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục thâm hụt trong năm thứ hai liên tiếp, với mức thâm hụt 7,3 triệu bao trong niên vụ 2022-2023.
Trong quý I, giá cà phê giao trong tháng 5 tăng mạnh 14% lên 2.206 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 5 cũng tăng 2,5% lên 170 US Cent/pound. Giá cà phê tăng trong bối cảnh thị trường lo ngại thiếu hụt nguồn cung trong ngắn hạn.
Chúng tôi dự báo giá cà phê tiếp tục tăng trong thời gian với nhiều khả năng vượt đỉnh cũ bởi những thông tin thiếu hụt nguồn cung so với nhu cầu. Tuy nhiên, trong ngắn và trung hạn, đà tăng giá có thể bị cản trở do những yếu tố vĩ mô không thuận lợi. Tăng trưởng kinh tế thế giới được các tổ chức quốc tế dự báo không mấy khả quan trong năm nay.
Tại Việt Nam, tính đến hết quý I xuất khẩu cà phê đã giảm 5% về lượng và giảm 5,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022, đạt 552.613 tấn, trị giá 1,2 tỷ USD.
Giá cà phê nội địa trong quý I tăng khoảng 25% so với thời điểm cuối năm 2022 và tăng khoảng 17% so với cùng kỳ năm ngoái lên khoảng 48.600 - 49.000 đồng/kg.
Nguyên nhân của việc giá cà phê trong nước ở mức cao trong khi xuất khẩu giảm là do doanh nghiệp khó khăn trong mua hàng. Hiện tại, việc thu hoạch đã hoàn tất tuy nhiên người dân vẫn giữ hàng không bán ra, chờ giá lên cao khiến doanh nghiệp không thể mua.
- Trong năm 2023, một số công ty xuất khẩu cà phê đặt mục tiêu doanh thu tăng mạnh trong bối cảnh giá cà phê đang trong đà phục hồi.
Nguồn: Vietnambiz
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "