Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Cứ xuống rồi lên, rồi lại xuống, và xu thế chủ đạo là đi xuống, giá cà phê nhân xô đang khiến cho người trồng cà phê lo lắng khi đang có nguy cơ xuống dưới mốc 30.000 đồng/kg kể từ tháng 1/2016.
Cuối tuần qua, giá cà phê nhân xô ở Tây Nguyên đã giảm xuống chỉ còn từ 30.900 - 31.600 đồng/kg. Đây là mức giá thấp nhất kể từ đầu niên vụ 2018 - 2019 đến nay. So với đầu niên vụ (ngày 1/10/2018), giá cà phê hiện tại giảm 2.100 - 2.200 đồng/kg. Và so với cùng kỳ năm ngoái, giá cà phê tính đến cuối tuần trước đã giảm tới 5.900 - 6.000 đồng/kg.
Theo ông Nguyễn Quang Bình, một chuyên gia về thị trường cà phê, giá cà phê liên tục giảm mạnh trong thời gian qua, trước hết là do những thông tin về nguồn cung dồi dào trên toàn cầu.
Báo cáo ra ngày 4/4/2019 của Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) ước tính rằng tổng sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2018 - 2019 có thể đạt 168,05 triệu bao (bao 60kg), cao hơn với dự báo của tổ chức này trước đây là 167,47 triệu bao. Dựa trên số liệu ước tính và cân đối với nhu cầu tiêu thụ, ICO cho rằng năm nay thế giới thặng dư 3,06 triệu bao cà phê so với con số dự báo trước đó là 2,29 triệu bao.
Điều đáng chú ý là trong báo cáo của ICO, về chi tiết sản lượng cà phê các loại, trong khi dự báo về sản lượng cà phê Arabica giảm xuống còn 103,71 triệu bao so với dự báo trước đó là 104,01 triệu bao, thì sản lượng Robusta được nâng lên 64,37 triệu so với 63,50 triệu bao trong dự báo trước đó. Giá cà phê Robusta còn gặp bất lợi thêm khi Bộ Nông nghiệp Indonesia vừa đưa ra dự báo sản lượng cà phê năm 2019 của nước này có khả năng tăng 0,92% so với năm 2018 và đạt 12,15 triệu bao.
Đại đa số sản lượng cà phê của Việt Nam là Robusta, do đó, những thông tin nói trên càng gây thêm nỗi lo lắng cho cà phê Việt Nam. Ngoài ra, ICO cũng điều chỉnh lại thặng dư cà phê của niên vụ 2017 - 2018 từ mức 3,28 triệu bao lên 4,16 triệu bao. Điều này đồng nghĩa với việc lượng cà phê tồn kho trên toàn cầu từ niên vụ trước chuyển sang niên vụ này đã được tính toán lại theo hướng tăng lên đáng kể so với tính toán trước đó.
Bên cạnh đó, việc đồng Reais Brazil giảm giá khi mà Chính phủ mới của nước này liên kết chặt chẽ hơn với Mỹ và Israel, qua đó dẫn tới những lo ngại về xung đột lợi ích quốc gia với Trung Quốc và khối Ảrập, càng khiến cho nông dân Brazil đẩy mạnh bán cà phê ra thị trường nhiều hơn, qua đó tạo thêm áp lực về nguồn cung trong những tháng qua.
Trong tháng 3 vừa rồi, Brazil đã xuất khẩu tới 3,209 triệu bao cà phê, tăng 41,4% so với tháng 3/2018. Tính chung trong quý I năm nay, Brazil đã đưa ra thị trường thế giới 9,348 triệu bao cà phê, tăng tới 30,6% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngoài ra, việc công bố thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung chậm lại 4 tuần đã làm chứng khoán Mỹ bật tăng trở lại. Điều này có thể đã khiến cho sức mua đầu cơ trên các sàn cà phê sụt giảm trong khi giá vàng và dầu thô tiếp tục gia tăng.
Với sự sụt giảm liên tục và hiện đã xuống mức khá thấp của giá cà phê toàn cầu, nhiều nhà phân tích cho rằng thị trường cà phê thế giới đang rất cần một cú huých từ các chính sách kinh tế vỹ mô.
Chẳng hạn, từ Brazil, đang có thông tin cho rằng Chính phủ Brazil đang cân nhắc về việc lập lại Quỹ mua cà phê hỗ trợ nông dân thông qua giao dịch quyền chọn bán. Thông qua giao dịch này, nông dân có thể bán sản phẩm với mức giá được bảo đảm.
Khi tham gia, người mua quyền chọn bán phải trả một mức phí mua quyền chọn. Chương trình này được Chính phủ Brazil thực hiện lần gần đây nhất vào năm 2013. Khi ấy, tất cả cà phê bán qua quyền chọn được đưa vào kho dự trữ, sau đó đấu giá. Đến năm 2017, lượng cà phê này đã được thanh lý toàn bộ.
Theo Bộ Công Thương, về dài hạn, giá cà phê toàn cầu sẽ phục hồi trở lại. Hiện mức giá thấp kéo dài đã khiến nông dân trồng cà phê trên thế giới không mặn mà đầu tư chăm bón vụ tới nên dự kiến xu hướng thặng dư nhẹ trên toàn cầu có thể chuyển sang thiếu hụt.
Theo ước tính, xuất khẩu cà phê tháng 3/2019 đạt 160 nghìn tấn, trị giá 278 triệu USD, giảm 24% về lượng và giảm 31,4% về trị giá so với tháng 3/2018. Lũy kế 3 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cà phê đạt 477 nghìn tấn, trị giá 830 triệu USD, giảm 15,3% về lượng và giảm 23,8% về trị giá so với 3 tháng đầu năm 2018.
Số liệu hết tháng 11/2018 cho thấy Việt Nam đã cung cấp 25% sản phẩm cà phê nhập khẩu vào Nhật Bản, so với 27% từ Brazil. So với cùng kỳ, Nhật Bản đã nhập khẩu cà phê Arabica của Brazil ít hơn 7%.
Nikkei Asian Review nhận định Việt Nam đang hiện diện nhiều hơn tại thị trường cà phê Nhật, vốn được đánh giá là sôi động. "Nhà sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới đang tận dụng sự gần gũi về địa lý và giá rẻ để cạnh tranh với Brazil", tờ này viết.
Theo đó, trong 11 tháng đầu năm 2018, Việt Nam đã cung cấp 25% sản phẩm cà phê vào thị trường Nhật, so với 27% từ Brazil – bị giảm 7% so với cùng kỳ.
Hầu hết các hạt cà phê Việt Nam xuất sang là Robusta, thường được gọi là cà phê vối, có vị đắng đậm với hàm lượng cafein cao. Đây cũng là loại cà phê xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, vốn dễ trồng, chống lại bệnh tật, sâu tốt.
Ngược lại, cà phê giống Arabica của Brazil (còn có tên là cà phê chè) có vị chua nhẹ, chát dịu và ngọt cuống lưỡi, khó trồng và đắt tiền hơn. Robusta theo đó được đánh giá là thích hợp trong ngành công nghiệp chế biến với sản phẩm là cà phê uống liền, nhờ mức giá thấp và hương vị mạnh mẽ.
Ông Toyohide Nishino, Giám đốc điều hành Hiệp hội thương mại cà phê Nhật Bản cho biết người tiêu dùng nước này đang rất ưa thích cà phê Robusta vì sự thơm ngon và vừa túi tiền.
Trong năm 2017, Nhật Bản đã nhập khẩu 88.000 tấn cà phê chưa rang từ Việt Nam, tăng gấp 10 lần so với một thập kỷ trước và tăng 15% so với cùng kỳ, tức đạt 94.000 tấn trong giai đoạn 2018.
Cà phê Robusta hiện đang được giao dịch ở mức 0,68 USD/pound (1 pound = 0,454kg), thấp hơn 30% so với Arabica với mức giá 1,03 USD/pound. Mặt khác, giá Robusta đang trong xu hướng giảm kể từ năm 2018 do kỳ vọng sản xuất toàn cầu cao hơn.
Tại Nhật, Robusta được sử dụng để sản xuất cà phê hoà tan, bán trong các gói đơn, phổ biến cho các hộ gia đình có 1 hoặc 2 thành viên – là nhóm người tiêu dùng đang phát triển. Robusta cũng tìm được thị trường tại các nhà chế biến cung cấp cà phê nhỏ lẻ khi họ trộn cùng Arabica để giảm giá. Robusta cũng được tìm thấy ở các cửa hàng cà phê với nhãn hiệu riêng, giá cả bình dân.
Bên cạnh lợi thế về giá cả và hương vị, Robusta của Việt Nam cũng có lợi thế nhờ vào sự gần gũi về địa lý. Việc vận chuyển từ Việt Nam cũng như các nhà sản xuất khác trong khu vực Đông Nam Á sang Nhật chỉ bằng một nửa thời gian của Arabica đến từ Mỹ Latin. Nhưng so với các nước trong cùng khu vực, nguồn cung của Việt Nam ổn định hơn.
Theo Nikkei, một yếu tố khác phía sau sự trỗi dậy của Robusta là biến đổi khí hậu. Như đã nói ở trên, Robusta dễ trồng và sinh trưởng tốt hơn Arabica, vốn chỉ thích hợp với các vùng đất có độ cao trên 1.500 mét so với mực nước biển. Một số nghiên cứu dự đoán rằng 1/2 vành đai cà phê nơi Arabica chất lượng cao được trồng, có thể sẽ không cung cấp được sản lượng tốt vào năm 2050.
Robusta không có khả năng thay thế hoàn toàn Arabica, theo Key Coffee, phát ngôn viên của một nhà rang xay lớn của Nhật Bản. Nhưng nhiều người trong ngành đã nhìn thấy nhu cầu gia tăng đối với hỗn hợp Arabica – Robusta.
Dẫn lời Shiro Ozawa, cố vấn của công ty cà phê Wataru và Co, có trụ sở tại Tokyo, Nikkei cho biết dù nhu cầu cà phê Arabica của Nhật vẫn ổn định nhưng Việt Nam sẽ là người được hưởng lợi từ thị trường này, vốn đang ngày càng phân cực giữa các phân khúc.
Hiện Việt Nam đang tìm cách mở rộng thị phần bằng cách gia tăng sản lượng hạt trên mỗi cây. Trong năm 2018, sản lượng cà phê Việt Nam đã tăng 4% so với cùng kỳ, đạt sản lượng 30,4 triệu bao 60kg.
Hà Thư (Trí Thức Trẻ)
Liên minh châu Âu (EU) đang tăng cường bảo hộ hàng nông sản thông qua tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, gây áp lực không nhỏ cho nông sản Việt Nam.
EU vừa thông báo sửa đổi phụ lục II, III, IV trong Quy định số 396/2005 của EU liên quan đến quy định dư lượng tối đa các loại hóa chất như chlorantraniliprole, clomazone, cyclaniliprole, fenazaquin... trên một số sản phẩm như rau, quả và thực phẩm.
Những thay đổi này, theo ông Vương Trường Giang, Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường, Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), sẽ ảnh hưởng tới một số loại nông sản mà Việt Nam xuất sang EU. Hiện nay, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng như cà phê, tiêu, điều, gạo, thanh long, và một số ít loại rau gia vị khác.
Số liệu của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Bộ NN&PTNT cho thấy, một số mặt hàng nông sản chủ lực xuất khẩu sang EU như tiêu, điều, cà phê đều có kim ngạch xuất khẩu giảm trong tháng 2. Ví dụ, khối lượng xuất khẩu hồ tiêu tháng 2-2019 ước đạt 12.000 tấn, với giá trị đạt 35 triệu đô la Mỹ, giảm tới hơn 20% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Đây là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh nhất.
Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản hai tháng đầu năm 2019 đạt 5,5 tỉ đô la Mỹ, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 2,71 tỉ đô la, giảm 10,1%.
EU là một trong những thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam, song cũng là thị trường có yêu cầu khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm, dán nhãn, môi trường… Dù lần thay đổi này tác động không quá lớn đối với các mặt hàng nông sản chủ lực mà Việt Nam xuất sang EU, nhưng theo đánh giá của ông Giang, các quy định pháp lý liên quan tới hàng rào kỹ thuật liên tục được EU “rà soát” và “điều chỉnh”.
Hàng hóa nông nghiệp của Việt Nam đang được xuất khẩu sang 180 nước và vùng lãnh thổ, đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 15 trên thế giới, với 10 mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỉ đô la Mỹ, 6 mặt hàng đạt trên 3 tỉ đô la Mỹ gồm tôm, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng rau quả, hạt điều, cà phê, gạo.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp còn chưa mấy quan tâm tới sự thay đổi khá “thường xuyên” này của EU, đặc biệt trong bối cảnh đa phần các doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Theo quan sát của ông Giang, ngành nông sản Việt Nam ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nhập khẩu của EU, khiến cơ quan chức năng của khối này để ý.
“Cái khó của doanh nghiệp nông sản hiện nay là làm thế nào cập nhật những thay đổi từ phía EU, từ đó kiểm soát và đáp ứng được chất lượng nông sản xuất khẩu sang khu vực này”, ông Giang nói.
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường, tại diễn đàn về xuất khẩu nông sản mới đây, đã khẳng định thực tế các quốc gia đang tăng cường bảo hộ hàng nông sản thông qua tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, trong đó có EU. Từ góc độ chuyên ngành, ông Giang khuyến cáo các doanh nghiệp cần nắm chắc những thay đổi này từ EU thông qua trang web của Cao ủy thực phẩm của EU.
Ông Giang cho biết thêm, trang web của Cục Bảo vệ thực vật cũng thường xuyên cập nhật những thay đổi tại các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu nông sản, do đó các doanh nghiệp làm ăn với thị trường EU cần liên tục cập nhật để chủ động kế hoạch kinh doanh.
Áp lực đáp ứng các tiêu chuẩn, chất lượng hàng nông sản sẽ lớn hơn nữa khi Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và EU (EVFTA) được phía EU thông qua. Dù EVFTA sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam xuất khẩu nông sản sang EU thông qua việc dỡ bỏ rào cản thuế quan, chuyên gia kinh tế Phạm Thị Dự, Đại học Thương mại, cho rằng việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ hay vượt qua được các rào cản kỹ thuật, kiểm dịch động thực vật là các vấn đề đáng quan ngại đối với nhiều doanh nghiệp.
Theo bà Dự, nguồn nguyên liệu cho sản xuất, xuất khẩu hiện nay của Việt Nam chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc, ASEAN và các nước không thuộc khối có FTA với Việt Nam. Ví dụ hạt điều, một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU, được nhập khẩu nguyên liệu chủ yếu từ Bờ Biển Ngà, Ghana, Nigeria, chiếm 63% nhu cầu chế biến. Hiện nay, EU có quy định tương đối chặt chẽ về nguồn gốc xuất xứ với hạt điều khi xem công đoạn gia công, bóc vỏ hạt điều là chế biến giản đơn. Do đó, muốn xuất khẩu được hưởng lợi về thuế quan, ngành điều nhân của Việt Nam phải chế biến từ nguồn điều nguyên liệu sản xuất trong nước.
Trong khi đó, theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam hai tháng đầu năm 2019 đã giảm cả về khối lượng và giá trị khi đạt 44.000 tấn và 365 triệu đô la Mỹ, giảm lần lượt 3,1% và 22,3% so với cùng kỳ năm 2018. Các chuyên gia cho rằng ngành điều Việt Nam đang bị mất cân đối nghiêm trọng giữa năng lực chế biến và sản lượng sản xuất nội địa. Để giữ vững vị thế dẫn đầu thế giới, ngành điều cần tập trung cải thiện năng suất và chất lượng, từ đó tìm kiếm cơ hội tăng xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, EU.
Để ứng phó với tình trạng các quốc gia tăng cường dựng các hàng rào bảo hộ, một trong những giải pháp trọng tâm mà Bộ NN&PTNT thực hiện năm 2019 là xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia theo hướng hài hòa hóa các quy định của các thị trường nhập khẩu khu vực và trên thế giới. Ngoài ra, bộ này cũng cho biết sẽ xử lý nghiêm các hành vi gian lận, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa nông sản, nhằm giữ uy tín cho hàng hóa nông sản của Việt Nam trên cả thị trường trong nước và quốc tế.
Vũ Dung (thesaigontimes)
Hôm nay, ngày 29/3/2019 tại Hội trường Công ty cổ phần Mascopex đã diễn ra Đại hội đồng cổ đông thường niên 2019.
Đến tham dự tại Đại hội lần này gồm có 25 cổ đông đại diện cho hơn 3,8 triệu cổ phần chiếm 98,89% cổ phần có quyền biểu quyết. Sau khi nghe danh sách nhân sự dự kiến do Ban tổ chức giới thiệu, 100% cổ đông có quyền biểu quyết có mặt tại Đại hội đã biểu quyết thông qua Đoàn Chủ tịch gồm các thành viên sau đây:
- Ông Đỗ Hà Nam (Chủ tịch Đoàn)
- Ông Ngô Xuân Nam (Thành viên)
- Ông Trần Ngọc Ni (Thành viên)
Đại hội đã thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2018 và kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2019, Báo cáo tổng kết hoạt động nhiệm kỳ II (2014-2019) của HĐQT Công ty và một số định hướng chủ yếu nhiệm kỳ III (2019-2024), Báo cáo hoạt động của Ban kiểm soát nhiệm kỳ II, Báo cáo chi trả thù lao HĐQT, BKS và Phương án phân phối lợi nhuận năm 2018.
Ghi nhận các ý kiến đóng góp thảo luận tại Đại hội, Chủ tịch Đoàn đã kết luận một số định hướng trọng tâm về việc xây dựng mô hình tổ chức Công ty và phát triển đội ngũ cán bộ cũng như các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động các chi nhánh.
Sau khi thông qua Quy chế bầu cử và tiến hành bỏ phiếu, Đại hội nhất trí bầu HĐQT và BKS nhiệm kỳ III (2019 – 2024) :
Danh sách Hội Đồng Quản Trị :
1. Ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch HĐQT
2. Ông Ngô Xuân Nam - Thành viên
3. Ông Trần Ngọc Ni - Thành viên
Danh sách Ban Kiểm Soát :
1. Ông Phạm Vũ Trường Giang - Trưởng Ban kiểm soát
Đại hội đã thống nhất nội dung Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên nhiệm kỳ 2019-2024 với sự nhất trí cao của 100% các cổ đông về tham dự. Với ý thức trách nhiệm cao, tinh thần làm việc khẩn trương và nghiêm túc và dân chủ, Đại hội đã thành công tốt đẹp.
Sau đây là một số hình ảnh tại Đại hội:
Ông Ngô Xuân Nam - Tổng Giám đốc thông qua Báo cáo tổng kết hoạt động SXKD năm 2018
Ông Trần Ngọc Ni - Kế toán trưởng Công ty thông qua Phương án phân phối lợi nhuận năm 2018
Đại hội thảo luận

Biểu quyết các nội dung trọng tâm
Toàn cảnh bỏ phiếu bầu cử HĐQT, BKS nhiệm kỳ III (2019-2024)

HĐQT, Ban kiểm soát nhiệm kỳ III ra mắt Đại hội
Bà Phạm Thị Thảo - Trưởng Ban Thư ký thông qua Nghị quyết Đại hội
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "