Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Khảo sát thị trường nông sản hôm nay 31/10 cho thấy, giá cà phê ở nhiều địa phương tiếp tục giảm 100-200 đồng/kg.
Đến lượt cà phê trầm lắng
Tại các tỉnh Tây Nguyên, giá cà phê hôm nay 31/10 giảm 200 đồng/kg xuống còn 35.500 - 36.000 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê tỉnh Lâm Đồng thấp nhất ở mức 35.500 đồng/kg và cao nhất là tại Gia Lai đạt 36.000 đồng/kg.
iá cà phê giao tại càng TP HCM đạt 1.556 USD/kg, giảm 120 USD so với hôm 30/10.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê robusta giao tháng 11 trên sàn ICE lúc 15h02 ngày 30/10 giảm mạnh 0,7% xuống 1.656 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao tháng 12 trên sàn New York lúc 17h30 ngày 30/10 giảm 1,6% xuống 112,4 UScent/pound.
Giá cà phê ở mức đáy 12 năm khiến nhiều người trồng cà phê tại Uganda càng chìm trong nghèo đói.
Trả lời phỏng vấn tờ Prosper Magazine, ông Emmanuel Iyamulemye, Giám đốc Cơ quan Phát triển ngành cà phê Uganda cho hay: “Giá cà phê thấp khiến người dân không mặn mà với việc chăm sóc cây. Điều này đồng nghĩa, quỹ của Cơ quan Phát triển Ngành cà phê Uganda cũng bị ảnh hưởng. Đồng thời nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế cà phê cũng giảm theo”.
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho biết, sản lượng cà phê thế giới năm 2017 - 2018 ước tăng 5,7% lên 164,81 triệu bao, trong đó gồm một phần vụ mùa mới cho các nhà sản xuất có niên vụ bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 7.
Sản lượng cà phê arabica và robusta tăng trong năm 2017 - 2018, mặc dù phần lớn sự tăng trưởng đến từ cà phê Robusta, tăng 11,7% lên 62,99 triệu bao so với năm 2016 - 2017.
“Mỗi năm Việt Nam nhập khẩu 60.000 tấn cà phê đã qua chế biến từ Brasil, Trung Quốc...”, “tỏi organic nhập khẩu có giá 100.000 đồng/củ, được khách hàng rất ưa chuộng”...
Những thông tin rời rạc xuất hiện trên báo chí trong thời gian vừa qua, mới nghe tưởng chẳng có gì liên quan nhưng lại cùng thể hiện một nghịch lý của thị trường thực phẩm Việt Nam: của ngon đem bán nước ngoài còn thị trường nội địa thì để nước ngoài khai thác.
Ví dụ như thông tin nhập khẩu cà phê. Đó là một điều không bình thường với một nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới, tới 1,8 triệu tấn cà phê nhân (năm 2017) như Việt Nam. Thực tế diễn ra bao nhiêu năm qua là những loại cà phê ngon nhất, đạt chất lượng nhất, đều được các doanh nghiệp, phần nhiều trong đó là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đem xuất khẩu dưới dạng thô, không thương hiệu. Còn ở trong nước, người dân có mức tiêu thụ ước tính 2,6 ki lô gam/năm, muốn uống một ly cà phê ngon lại thật khó khăn. Một số chấp nhận bỏ nhiều tiền để tìm đến quán của (không nhiều) những ông chủ có đất trồng cà phê, muốn làm cà phê thật cho người yêu cà phê. Đông hơn một chút vào các chuỗi cà phê nước ngoài, giá cũng không rẻ. Phần còn lại, chiếm phần lớn, hàng ngày vẫn uống cà phê trộn phụ gia, hương liệu, thậm chí là hóa chất nhưng cho cảm giác sánh, đậm.
Và không chỉ cà phê. Những loại thủy hải sản ngon nhất (như cá ngừ đại dương, tôm sú rừng ngập mặn Cà Mau...), những loại trái cây, rau củ, gạo đặc sản, trồng hữu cơ... đều tìm đường xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp khi có sản phẩm mới cũng nhìn ngay hoặc ưu tiên cho thị trường xuất khẩu, không phải là nội địa.
Làm hàng xuất khẩu hay bán trong thị trường nội địa hay cả hai là quyền quyết định của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cà phê thích xuất khẩu thô vì đơn giản, thu hồi vốn nhanh, nhu cầu thị trường rất lớn, nên thờ ơ với thị trường cà phê chế biến. Doanh nghiệp trái cây, rau củ thích xuất khẩu vì đó là thị trường đem lại biên lợi nhuận cao. Có doanh nghiệp xuất khẩu đơn giản chỉ vì thị trường trong nước đã “quá loạn”, không thể chen chân. Cũng có doanh nghiệp đồng thời làm hàng cho thị trường trong nước nhưng yêu cầu về lao động hay về nguyên liệu đầu vào lại thấp hơn hàng xuất khẩu. Thế mới có chuyện, công nhân ở xưởng hàng nội địa bị thương ở tay vẫn đi làm bình thường còn xưởng xuất khẩu thì không.
Nhưng hệ lụy từ sự lựa chọn này của doanh nghiệp thì lại đã, đang và còn tác động mạnh mẽ đến thị trường nội địa tới hơn 90 triệu dân và có mức thu nhập ngày càng cải thiện.
Vì doanh nghiệp trong nước bận chinh chiến, đánh bắt “xa bờ” nên thị trường nội địa trở thành mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp nước ngoài khai thác. Những tên tuổi lớn trên thị trường cà phê bột, rang xay đang là doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Các nhà sản xuất thực phẩm chế biến lớn cũng đổi chủ ngoại gần hết, chưa kể thống lĩnh cả chuỗi cung ứng là doanh nghiệp ngoại...
Hàng nhập khẩu đang tràn ngập thị trường, cả thượng vàng lẫn hạ cám, nhiều khi lẫn lộn nhau. Người nhiều tiền mua hàng “xịn”, năm bảy triệu đồng một ký nho, vài chục triệu đồng một con cua... Trong đó, có những loại, ở nước xuất khẩu, chỉ là hàng bình thường nhưng về Việt Nam “được” thổi giá vì mác ngoại. Người ít tiền hơn có thể bị lừa bởi táo Trung Quốc gắn mác Nhật Bản, Mỹ, New Zealand. Thực tế này không chỉ vì một bộ phận người tiêu dùng “sính ngoại” mà còn vì họ không có nhiều sự lựa chọn, vì vậy chấp nhận cả xác suất bị... lừa. Trước đó, trong một thời gian dài, sự thờ ơ hoặc phân biệt đối xử về tiêu chuẩn hàng hóa đã khiến người tiêu dùng mất lòng tin vào hàng sản xuất trong nước.
Còn những doanh nghiệp Việt muốn quay về hoặc muốn bắt đầu bằng thị trường nội địa thì đang gặp lắm gian truân. Trong đó, phổ biến nhất là người tiêu dùng hiểu sai và đã bị làm hỏng khẩu vị (vì cà phê độn bắp, đậu nành hay trái cây sấy đã được tẩy trắng trước khi nhuộm màu đẹp và cho hương liệu...). Đáng sợ hơn là mất lòng tin. Chính vì vậy, nói như một chủ doanh nghiệp có 30 năm kinh doanh và cũng từng mải mê chinh chiến xuất khẩu, phải kiên trì và chịu thiệt để lấy lại thị trường trong nước. Việc đó, rất mất thời gian, công sức và tiền bạc.
Khó nhưng chắc chắn, doanh nghiệp cần phải làm. Bởi, nói như một chuyên gia thị trường người Ấn Độ tại “Lễ hội sức khỏe và dinh dưỡng 2018” mới đây thì chỉ khi nào doanh nghiệp xây dựng và tự hào với thương hiệu “Made in Vietnam” thì mới có thể vững vàng bước ra thế giới (với giá trị gia tăng cao). Chỉ khi những tiêu chuẩn từ Việt Nam được thế giới công nhận thì cánh cửa tiếp cận thị trường toàn cầu mới rộng mở thực sự. Đó cũng là cách Việt Nam xóa đi định kiến “hàng giá rẻ, chất lượng thấp” mà nhiều thị trường lớn đã đánh giá lâu nay.
Bùi Tâm An (thesaigontimes)
Sự gia tăng số lượng nhà phát triển ô tô tại nhiều quốc gia nhỏ được nhận định là một mối nguy đối với ngành công nghiệp xe hơi tại nhiều cường quốc, trong đó có Australia.
Tuần trước, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Khoa học và Công nghệ của Australia, Karen Andrews, đã công bố 1 chương trình đầu tư mới của chính phủ nước này. Theo đó, Australia sẽ chi khoảng 5 triệu USD lập quỹ khuyến khích các dự án tốt nghiệp của các kỹ sư, nhằm ứng dụng vào lĩnh vực ô tô nội địa.
Trên thực tế, Australia là quốc gia có vị thế trong ngành cung cấp linh kiện ngành xe hơi, nhưng lại thiếu những cái tên thiết kế đẳng cấp. Rất nhiều công ty ô tô của châu Á đặt trụ sở và nhà máy tại Australia để tận dụng ngành công nghiệp phụ trợ của nước này, nhưng điều đó chẳng giúp gì nhiều cho Australia trong việc tạo nên danh tiếng riêng cho ngành ô tô nội địa.
Quickset, một công ty hàng không vũ trụ sản xuất máy bay chiến đấu F-35 ở Australia, cho biết "có một số lượng lớn các kỹ sư của công ty có nền tảng về ngành ô tô, nhưng lại làm việc cho một đơn vị sản xuất máy bay".
Trong một báo cáo đầu năm, thượng viện Australia từng đưa khuyến nghị với chính phủ về việc chuyển đổi các doanh nghiệp sản xuất phụ kiện ô tô lẻ thành chuỗi cung ứng, nhằm tạo tiền đề cho những thay đổi chiến lược trong ngành kinh tế quan trọng của xứ kangaroo.
"Vì những lợi ích lâu dài của Australia, ngành ô tô cần phải được mở rộng và giữ chân được người tài, nếu không, chúng ta sẽ chảy máu chất xám trong ngành này vào tay các nhà sản xuất ô tô tới từ các quốc gia nhỏ bé ở châu Á".
Theo tạp chí ô tô Insustry Update, nguy cơ của Australia có thể thấy rất rõ từ sự kiện Paris Motor Show năm nay khi VinFast - một nhà phát triển ô tô chưa có tên tuổi đến từ Việt Nam - cho ra mắt 2 mẫu xe ấn tượng là LUX A2.0 và LUX SA2.0.
"VinFast, dù mới xuất hiện trong vòng 18 tháng, nhưng đã có trong tay một đội ngũ mạnh để phát triển thương hiệu xe hơi riêng, dù các ngành công nghiệp của Việt Nam vẫn còn ở mức xuất phát điểm thấp. Tốc độ của VinFast không chỉ là mối nguy riêng cho các doanh nghiệp ô tô Việt Nam hay ở châu Á, mà sẽ sớm tác động đến Australia, nếu chính phủ không có những kế hoạch chiến lược ngay từ bây giờ".
Theo L.T (Nhịp Sống Kinh Tế)
Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm, thủy sản trong 9 tháng ước đạt 29,54 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm ngoái, bằng 73% kế hoạch năm.
Trong tháng 9, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thuỷ sản ước đạt 3,37 tỷ USD tăng 9,93% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu nông sản chính đạt 1,63 tỷ USD, lâm sản chính ước đạt 784 triệu USD, thuỷ sản ước đạt 799 triệu USD...
Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành 9 tháng năm 2018 ước đạt 29,54 tỷ USD vượt 1,3% mục tiêu quý đã đề ra.
Một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2017 là gạo, rau quả, sản phẩm từ cao su... Cà phê và hạt điều có khối lượng xuất khẩu tăng lần lượt là +20% và +6,8%, nhưng do giá xuất khẩu giảm nên kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng này chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ. Các mặt hàng cao su, hồ tiêu tăng về khối lượng nhưng giảm về giá trị.
Xuất khẩu thủy sản, lâm sản chính và chăn nuôi đều tăng. Các thị trường xuất khẩu tăng trưởng mạnh trong 9 tháng năm 2018 là Indonesia, Malaysia, Philippines, Nga, Trung Quốc...
Trong khi đó, g iá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 9 ước đạt 2,63 tỷ USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu 9 tháng đạt khoảng 23,42 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2017. Thặng dư thương mại ước đạt 6,2 tỷ USD, tăng 2,85% so với cùng kỳ năm ngoái./.
Hoài Lam/VOV.VN
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "