Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Năm 2007,có một chú Ả Rập sang nghiên cứu thị trường, Tony làm cò hướng dẫn.
Tony ăn vận soang trạng ( tức sang trọng ) ra sân bay TSN đón, chú ấy nói tao theo đạo Hồi nên mày phải lưu ý nhé. Anh tài xế bảo thôi mình dắt đi ăn cá hồi đi cho nó hợp vần.
Anh tài xế là người Phan Thiết nên phát âm cứ lộn giữa ôi và oai. Ví dụ " Anh ấy là người nước ngồi, và anh ấy thích ăn cá hoài" Tony phải book phòng KS có mũi tên trên trần để chú ấy hàng ngày hướng về thánh địa Mecca cầu nguyện, rồi đàm đạo về văn hóa Hồi Giáo, về các Caliph và sự khác nhau giữa 2 dòng Sunny - Shiai, về mái vòm các thánh đường ở Thổ, Tây Ban Nha, về bộ kinh Coran nổi tiếng, về nàng Sheherazade với 1001 đêm nhưng chủ yếu cũng xoáy vào các truyện nổi tiếng mà nàng kể như cuộc phiêu lưu của Sinbad, của Alibaba vào 40 tên cướp, Alađin và cây đèn thần... cứ mấy chuyện khác không nhớ nổi chi tiết để thảo luận.
Những đóng góp của thế giới Hồi giáo như các con số trong toán học, mỹ thuật, thơ ca, ... cũng được Tony nịnh hết biết. Tự hào dân tộc lên cao ngút trời, chú ấy hài lòng lắm, bảo là tao đi mấy nước khác, bọn nó chẳng biết gì về thế giới Hồi giáo tụi tao ngoài khủng bố.
Tụi Việt Nam mày được giáo dục tốt như vậy, tao ưng bụng à nha. Sau đó cho Tony 1 vé đi xem triển lãm du thuyền ở Dubai mà Tony đâu có lấy, đói phải tắm gội cho sạch, rách phải dùng nước hoa cho thơm. Để xác nhận là khách hài lòng, đi chung xe hơi, cứ khoảng 30 phút Tony lại quay sang đập vào tay chú ấy và hỏi " ông có hài lòng không", chú ấy nói " yes", cứ đúng 30 phút sau Tony lại đập cái bốp vào tay chú ấy và hỏi " hài lòng hay không hài lòng", đâu chừng chục lần thì chú ấy sợ quá bảo là "tao hài lòng lắm, xin đừng hỏi nữa".
Đưa ra Hà Nội để họp tìm mối, gặp 1 đại gia. Chú định lập nhà máy và liên doanh với vài công ty VN, biết tin, đại gia vui mừng ra sân bay đón ngay. Trên đường về thì không về thẳng khách sạn mà ghé 1 gara “ tiện đường lấy thêm 1 con xe”.
Vừa mệt vừa đói nên khi đại gia hỏi “ mày thấy tao lấy con xe này nom được không” thì Tony chỉ nói “ ok đó anh” làm đại gia giận.
Vừa xuống máy bay bị jetlag nên Tony không nịnh được nhiều. Lúc đi ăn, đại gia rủ đi Lệ Mật ăn rắn, thấy Tony ậm ừ nên đại gia tức mình mua may quay cuồng, làm động tác miêu tả cảnh hành quyết con rắn sống để nuốt tim vào bụng, uống máu con rắn...rồi lột da chiên giòn, bẻ xương vào mồm nhai rau ráu...cho ông kia xem, ra chiều muốn rủ đi lắm lắm.
Chú Ả rập hỏi ủa ông ấy miêu tả cái gì mà ngộ nghĩnh vậy, Tony bèn dịch đấy là điệu múa chào mừng khách phương xa, tập tục ở đây nó thế.
Thấy không được, đại gia rủ đi ăn cóc, nhái, chó, mèo, chuột, gà rừng, nhím, bồ câu, đại bàng, khỉ, vượn, hươu cao cổ, ngựa vằn, hà mã…gì Tony cũng giả vờ hỏi ý thằng kia rồi từ chối hết.
Hết chuyện hay sao mà đi ăn động vật hoang dã và thú nuôi, có phải là thực phẩm được chăn nuôi đại trà đâu. Đại gia trong Nam thì con gì cũng bắt đem về nhà nuôi để khoe, còn đại gia đất Bắc thì con gì cũng phải thịt.
Thuyết phục không được, đại gia giận lắm, lầm bầm ngon thế mà bọn dở hơi này không ăn, nghi Tony kém ngoại ngữ, bảo thế thì thôi ăn ở khách sạn Daewoo vậy. Đại gia đích thân cầm lái, vượt tất cả đèn đỏ và hềnh hệch cười " mày nói với ông ấy là tao quen hết với công an giao thông ở đây" làm chú Ả Rập xanh mặt vì sợ tai nạn.
“ Lần sau ông có sang, tao đích thân đánh con Mẹc S500 ra sân bay đón, chứ con này chán rồi", Tony vội vàng làm thầy thông y chang.
Chú Ả Rập " Thanks".
Đại gia" Mày có dịch là Mẹc không đấy, sao tao không nghe". Tony vội bào chữa " Mơ Si Đì (Mercedes)".
Ông Ả Rập vẫn hờ hững: " Thanks".
Đại gia buồn xo, chép miệng " mày nói thế nào mà ông ấy chả phản ứng gì, Mẹc Sơ Đét chứ phải chuyện chơi".
Lúc sắp về, đại gia giả lả " hỏi giùm tao bên ấy ông ấy đi con gì đi". Chú Ả Rập nói con lạc đà.
Sau này Tony mới hiểu con gì là con xe, nên mới dịch đúng, chú Ả rập nói tao không rõ lắm, có mấy chục chiếc cho công ty và cho gia đình ( chú ấy có 3 vợ).-"mà sao cứ suốt ngày hỏi phương tiện giao thông vậy, bộ hết chuyện gì để hỏi rồi hả?-chú Ả Rập phản ứng gay gắt sau khi cứ xoay quanh đề tài automobile.
Đại gia tròn xoe mắt khi nghe ông này không quan tâm đến ô tô, mắng " lại kém ngoại ngữ, lần sau mày khỏi ra, tao nhờ thư ký tốt nghiệp ngoại giao, nó sẽ dịch hết ý tao. Xe ô tô ai chẳng quan tâm, có tiền phải mua siêu xe chứ. Mày toàn cắt ý, éo biết thì nói éo biết”.
Tony rưng rức khóc. Thương cái phận làm cò hay bị đại gia sỉ nhục, tức bị xài xể kiểu người miền Nam hay nói. Và đúng là xã hội ta quan tâm đến xe cộ thật.
Nhớ hồi phổ thông, 1 lần cả lớp đạp xe sang nhà bạn Tuyết Tuyết chơi.
Nhà Tuyết Tuyết thuộc loại khá giả, một cái ngoài lộ, 1 cái trong vườn. Cả lớp gửi xe đạp ở nhà ngoài và đi bộ trong vườn chơi. Chỉ khoảng vài ba trăm mét, đang đi thì tiếng xe máy gầm rú vang hồi từ phía sau.
Cậu bạn ấy đi đâu về, ông chạy đến trước mặt đoàn học trò và dừng lại, kêu rất to " Lê Trần Thị Hồng Hoa Tuyết Tuyết, lên Đờ Rim cậu chở về con". Tuyết Tuyết phụng phịu " thôi để con đi bộ chung với các bạn".
Cậu ấy quát " Tao bảo mày lên Đờ Rim là lên Đờ Rim ngay có nghe không? Đờ Rim cơ mà, đâu phải chuyện chơi !"Tuyết Tuyết đành leo lên xe đi trước.
Vừa leo lên thì ông cậu rồ ga thật mạnh phóng đi làm con nhỏ suýt té ra đằng sau theo định luật quán tính 3 của Niu Tơn FAB= -FBA. Khói xăng kéo dài thành vệt, mùi xăng thơm ngát suốt cả con đường làng..
(CÒN TIẾP)
Tổng giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản 3 tháng đầu năm 2016 đạt 6,73 tỷ USD, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2015.
Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 3/2016 đạt gần 2,54 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2016 đạt 6,73 tỷ USD, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2015.
Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 3,41 tỷ USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2015.
Giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 1,36 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2015. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2016, chiếm 51,84% tổng giá trị xuất khẩu. Trong 2 tháng đầu năm 2016, các thị trường có giá trị xuất khẩu thủy sản tăng là Hoa Kỳ (22,15%); Trung Quốc (31,16%), Thái Lan (26,17%), Anh (14,43%) và Hồng Kông (13,71%).
Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 1,57 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2015.
Cụ thể, giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 3 tháng đầu năm 2016 đạt 1,49 tỷ USD, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2015. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc - 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2016 - chiếm 65,98% tổng giá trị xuất khẩu.
Khối lượng gạo xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2016 ước đạt 1,59 triệu tấn và 692 triệu USD, tăng 41,6% về khối lượng và tăng 40,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Giá gạo xuất khẩu bình quân tháng 2 năm 2016 đạt 433 USD/tấn, giảm 5,78% so với cùng kỳ năm 2015. Indonexia vươn lên là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2016 với thị phần đạt 31,42%. Xuất khẩu gạo sang thị trường này hai tháng đầu năm 2016 đạt 330,3 nghìn tấn và 131,01 triệu USD, tăng 213,1 lần về khối lượng và 196,3 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.
Tại thị trường trong nước, tháng 3, giá nhiều mặt hàng nông sản chính đang diễn biến theo xu hướng tăng.
Cụ thể, giá lúa tại một số tỉnh ĐBSCL tăng mạnh do Trung Quốc đang đẩy mạnh mua gạo từ Việt Nam; Giá cà phê, cao su cũng diễn biến tăng cùng với xu hướng tích cực trên thị trường cao su thế giới.
Đặc biệt giá cá tra có dấu hiệu tăng trở lại do nhu cầu thu mua của các nhà máy tăng nhưng nguồn cung cá trong hộ nuôi lại không còn nhiều.
Tuy nhiên, một số mặt hàng nông sản cũng có giá giảm như giá chè tại Thái Nguyên tháng qua giảm so với tháng trước do khí hậu ẩm ướt và ấm áp của mùa xuân tạo nguồn cung hứa hẹn.
3 tháng đầu năm, xuất khẩu chè đạt 23 nghìn tấn với 35 triệu USD, giảm 5% về khối lượng và giảm 10,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Giá chè xuất khẩu bình quân 2 tháng đầu năm 2016 đạt 1.554,2 USD/tấn, giảm 8,3% so với năm 2015. Trong 2 tháng đầu năm 2016, khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan - thị trường lớn nhất của Việt Nam với 39,23% thị phần - tăng 2,74% về khối lượng nhưng giảm 1,35% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Các thị trường có giá trị xuất khẩu tăng đột biến là Indonesia (tăng 72,86%), Malaysia (tăng 84,66%) và các TVQ Arập Thống nhất (tăng 19,35%).
Giá hạt tiêu cũng có xu hướng giảm theo quy luật do là thời điểm đang thu hoạch rộ, lượng cung tăng lên.
Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 3 năm 2016 ước đạt 21 nghìn tấn, với giá trị đạt 171 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 3 tháng đầu năm 2016 đạt 41 nghìn tấn với 349 triệu USD, tăng 7% về khối lượng nhưng giảm 1,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 2 tháng đầu năm 2016 đạt 8.878,86 USD/tấn, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2015. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2016 là Hoa Kỳ, Ấn Độ, các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất và Hà Lan với 47,31% thị phần. Các thị trường có giá trị xuất khẩu tăng mạnh là Pakistan (tăng gấp gần 4 lần), Ai Cập (64,65%) và Hàn Quốc (25,69%)./.
Nhân Trí/VOV.VN
Trong năm 2016, Hoa Kỳ sẽ áp dụng Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm (FSMA) đối với xuất khẩu hạt điều của Việt Nam vào Mỹ gây ra nhiều lo lắng cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến hạt điều.
Bởi vì, hiện tại ở Việt Nam vẫn có tới hơn 40% số nhà máy chế biến hạt điều không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Chủ tịch Hiệp hội FDA từng báo cáo tại một hội nghị ở Dubai rằng: “Sản phẩm hạt điều của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ gặp 34 lỗi, cao hơn Ấn Độ 2 lỗi nên xét về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm của hạt điều nhân Việt Nam chỉ đạt mức trên trung bình”.
Bên cạnh đó, hạt điều của Việt Nam xuất qua Mỹ cũng bị chê là lẫn nhiều tạp chất và màu sắc không đồng đều. Nguyên nhân là chúng ta có quá nhiều nhà máy chế biến nhỏ lẻ, tăng từ 345 lên 371 nhà máy chế biến hạt điều chỉ trong vòng 1 năm qua dẫn tới tình trạng lộn xộn trong khâu chế biến nên hạt điều của Việt Nam không được đều, bắt mắt như của Brasil. Tại Brasil với sản lượng tầm 150.000 tấn/năm nhưng chỉ có khoảng 8 doanh nghiệp chuyên về chế biến hạt điều.
Đạo luật FSMA mà Hoa Kỳ đưa ra cũng nhằm mục đích buộc các nhà sản xuất phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa nguồn gốc xuất xứ hạt điều và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Đặc biệt là mới đây đã có một lô hàng hạt điều nhập khẩu vào Mỹ từ Trung Quốc bị nhiễm khuẩn Salmonella và E.coli gây chết một người nên vấn đề truy xuất nguồn gốc càng được làm gắt gao.
Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ hạt điều trên thế giới nhìn chung vẫn gia tăng nhưng tùy vào thị trường cụ thể: Thị trường Mỹ, Trung Đông tăng mạnh hơn thị trường châu Âu, Úc. Có nhiều nguyên nhân, một là, do sự trượt giá của đồng tiền chung châu Âu và trượt giá của đồng USD Úc quá cao khiến cho khả năng tiêu thụ hạt điều của họ giảm xuống. Hai là, hiện tại, giá một số loại hạt dùng làm thực phẩm trên thế giới đang có xu hướng giảm, một số nhà nhập khẩu lớn chưa vội mua hạt điều nhân. Tức là, họ đang chờ giữa giá điều thô và điều nhân trên thị trường thế giới ổn định lại rồi mới quyết định mua để hạn chế rủi ro.
Năm 2016 sẽ là một năm rất khó khăn cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu hạt điều. Giá điều thô trong nước hiện nay đang rất cao, nếu như chế biến xuất khẩu sẽ không hiệu quả. Đây cũng là khó khăn chung mà các doanh nghiệp xuất khẩu đang gặp phải. Các nhà máy sẽ phải canh giữa giá mua, giá bán sao cho phù hợp. Ví dụ, doanh nghiệp mua điều thô giá cao thì cũng phải canh bán điều nhân được giá. Ít nhất cũng phải bán hòa vốn hoặc lời một chút, còn không thì phải chờ. Một số nhà máy lời nhiều trong khoảng 3 năm trở lại đây thì họ chấp nhận được việc bán giá thấp để duy trì sản xuất, duy trì việc làm cho công nhân. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào phương án kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Còn nhìn chung, các nhà máy nên canh giá, nếu không bán được giá cao thì phải chờ giá lên.
Đối với điều thô, hiện một số doanh nghiệp nhỏ ở Bình Phước vẫn mua điều thô trong nước khiến giá điều trong nước ở mức cao. Đặc thù của những doanh nghiệp nhỏ này là chi phí sản xuất rất thấp và không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nhiều khi do những kẽ hở trong quy chế thương mại, doanh nghiệp trộn hàng (trộn thứ khác vào hạt điều hoặc trộn các loại hạt điều có chất lượng khác nhau) dẫn tới tình trạng mã hàng không chuẩn nhưng vẫn bán được ở nội địa. Những đơn vị nào đã có hợp đồng xuất khẩu từ trước, bây giờ buộc họ phải thực hiện hợp đồng với khách hàng nước ngoài thì cho dù lỗ họ cũng phải mua vào. Chính vì thế làm cho thị trường rối, khó điều khiển được giá điều thô trong nước.
Việc mua bán phụ thuộc vào cơ chế thị trường. Nếu các nhà máy đồng loạt không mua điều thô của nông dân với giá cao thì chắc chắn nông dân sẽ phải hạ giá bán. Khổ một nỗi, vì một số nhà máy nhỏ đặt tại Bình Phước có chi phí vận chuyển và chi phí sản xuất thấp so với các nhà máy ở tỉnh khác, họ mua vào giá cao nên nhiều doanh nghiệp khác cạnh tranh không lại.
Tỷ giá đồng USD Úc xuống thấp, nhiều doanh nghiệp của Úc trước đây mua hạt điều Việt Nam với số lượng rất lớn thì nay cũng phải chuyển dần sang những doanh nghiệp nhập khẩu nhỏ nhập hạt điều Việt Nam với số lượng nhỏ để tiết kiệm chi phí. Bởi vì, ở bên Úc, những doanh nghiệp lớn, mỗi lần nhập hàng số lượng lớn về thị trường Úc bán không được do chênh lệch tỷ giá tiền tệ, dẫn tới tăng chi phí đầu vào và chi phí bảo quản. Làm kinh doanh nên các doanh nghiệp luôn hiểu bài toán lợi nhuận phải đặt lên hàng đầu, vì thế họ hạn chế nhập khẩu điều Việt Nam với số lượng lớn so với cùng kỳ năm trước.
Vũ Thị Thu Hương - Giám đốc Công ty HD Cashew (Diễn đàn doanh nghiệp)
Điều 89.2 của luật này quy định từ ngày 1-1-2016 đến ngày 31-12-2017, tiền lương tháng đóng BHXH bao gồm: (1) mức lương; và (2) phụ cấp lương theo quy định của pháp luật lao động được ghi trong hợp đồng lao động (HĐLĐ).
Như vậy, mỗi tháng doanh nghiệp phải chi thêm 18% các khoản phụ cấp lương để đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ.
Doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, tất nhiên không muốn gánh thêm chi phí này, nhưng cũng không thể cắt giảm toàn bộ phụ cấp lương đã trả cho NLĐ như trước đây. Theo điều 23.1 và điều 35 của Bộ luật Lao động, doanh nghiệp phải thỏa thuận với NLĐ để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ trước khi cắt giảm phụ cấp lương và lẽ thường, không NLĐ nào lại đồng ý với doanh nghiệp trong trường hợp này.
Còn về mặt quản lý nhân sự, nếu không đảm bảo thu nhập của NLĐ tăng lên theo thời gian mà chỉ tìm cách cắt giảm các khoản khác ngoài tiền lương, doanh nghiệp sẽ đứng trước nguy cơ không giữ được NLĐ lâu dài. Tình trạng mất NLĐ với số lượng lớn và thường xuyên trong các doanh nghiệp sản xuất sẽ gây ra khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp trong việc vận hành nhà máy và đảm bảo tiến độ, chất lượng đơn hàng.
Để giảm thiểu phần nào khoản chi phí BHXH phát sinh nhưng vẫn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, trên thực tế nhiều doanh nghiệp đang vận dụng một trong các cách làm sau:
Chuyển các khoản phụ cấp lương hiện tại thành tiền thưởng
Doanh nghiệp sẽ thỏa thuận với NLĐ để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ theo hướng định danh lại các khoản phụ cấp lương thành tiền thưởng vì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm tiền thưởng theo quy định tại điều 103 của Bộ luật Lao động(1), (lưu ý là các khoản khác như tiền ăn giữa ca, khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại... chỉ chiếm một phần nhỏ trong phần chung “các khoản bổ sung khác mang tính chất chế độ và phúc lợi khác”). NLĐ sẽ dễ dàng đồng ý với đề xuất này bởi thu nhập của NLĐ từ tiền lương vẫn không thay đổi trong khi NLĐ cũng không bị khấu trừ thêm 8% phụ cấp lương để đóng BHXH (trong trường hợp NLĐ được trả lương trước thuế).
Xét câu chữ thì rõ ràng khoản tiền thưởng không phải là phụ cấp lương theo tinh thần của điều 4 Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH và sẽ không được gộp vào tiền lương để làm cơ sở tính tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ, nhưng bản chất của khoản tiền thưởng mới được gọi tên này dường như chưa đúng cả ở quy định pháp luật lẫn nghĩa thông thường.
Cơ bản thì bản chất của tiền thưởng là một khoản thu nhập bổ sung mang tính khuyến khích NLĐ để họ nhiệt tình, có thêm những đóng góp có ích cho doanh nghiệp và NLĐ được nhận tiền thưởng như vậy phải đáp ứng các điều kiện để xứng đáng nhận tiền thưởng hơn những NLĐ khác. Điều 103 của Bộ luật Lao động cũng đã quy định tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho NLĐ căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm và mức độ hoàn thành công việc của NLĐ.
Sẽ là khập khiễng khi xác định ngay từ cuối năm Dương lịch này tất cả NLĐ đều sẽ nhận được hàng tháng khoản tiền thưởng cố định trong suốt năm làm việc tiếp theo dù bản thân doanh nghiệp cũng chưa biết kết quả hoạt động kinh doanh của mình ra sao trong tương lai. Và càng khiên cưỡng hơn nữa khi nhiều doanh nghiệp cơ cấu tiền lương thấp hơn tiền thưởng hàng tháng. Dù vậy, ở phía ngược lại, doanh nghiệp vẫn có thể lập luận rằng tiền thưởng này đã căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và mức độ hoàn thành công việc của NLĐ trong năm vừa qua, nhưng thay vì trả một lần vào cuối năm thì doanh nghiệp chia đều để định kỳ trả khoản tiền thưởng này trong suốt năm làm việc sắp tới của NLĐ.
Cách làm này rất phổ biến nhưng trong quá trình triển khai, nhiều doanh nghiệp quên rằng theo Bộ luật Lao động, quy chế thưởng phải được công bố tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở, phải cụ thể hóa điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ như HĐLĐ hay thoả ước lao động tập thể. Do vậy, nếu chưa thực hiện đầy đủ những việc này, doanh nghiệp vẫn có thể bị xem là chưa tuân thủ quy định và không được chấp nhận loại khoản tiền thưởng định kỳ hàng tháng ra khỏi cách xác định tiền lương tháng dùng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ. Ngoài ra, khoản tiền thưởng đã trả còn có thể không được ghi nhận là chi phí được trừ theo các quy định thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ghi giảm mức lương theo HĐLĐ và trả tiền lương làm thêm giờ bù đắp
Một số doanh nghiệp, phần lớn là doanh nghiệp sản xuất, gia công đang vận dụng điều 21 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP và điều 3.2 của Thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH để chia nhỏ tiền lương của NLĐ bao gồm tiền lương làm thêm giờ. Theo đó, tiền lương ghi trong HĐLĐ do doanh nghiệp thỏa thuận với NLĐ sẽ bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, nhưng mức lương không bao gồm khoản tiền trả thêm khi NLĐ làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Doanh nghiệp sẽ giải thích và thuyết phục NLĐ ký kết phụ lục sửa đổi, bổ sung HĐLĐ hoặc HĐLĐ mới ghi nhận mức lương NLĐ nhận theo HĐLĐ sẽ thấp hơn mức lương trước đây nhưng không thấp hơn lương tối thiểu vùng, và ngầm hiểu với nhau rằng phần chênh lệch sẽ vẫn được doanh nghiệp trả đủ cho NLĐ dưới một tên gọi khác là tiền lương làm thêm giờ. Như vậy, doanh nghiệp chỉ phải đóng BHXH bắt buộc hàng tháng cho NLĐ theo mức lương bằng hoặc cao hơn chút ít so với lương tối thiểu vùng, chứ không phải đóng trên toàn bộ tiền lương của NLĐ.
Chưa rõ, cơ quan BHXH sẽ có ý kiến như thế nào về việc tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ có bao gồm tiền lương làm thêm giờ hay không, nhưng trước mắt, cách làm này của doanh nghiệp sẽ gặp những khó khăn nhất định trong việc cấu trúc lại hệ thống tính toán tiền lương và các công việc hành chính kéo theo.
Do (số) tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân(2) nên NLĐ sẽ được lợi hơn so với việc phải đóng thuế thu nhập cá nhân trên toàn bộ tiền lương theo HĐLĐ như trước. Tuy nhiên, nếu có tranh chấp với doanh nghiệp sau này, NLĐ sẽ gặp khó khăn trong việc chứng minh tiền lương thực tế của họ.
Về phía doanh nghiệp, nếu áp dụng cách này, sẽ rất vất vả cho các phòng ban nội bộ khi phải xem xét hệ thống chứng từ kế toán nội bộ, cơ cấu lại hệ thống tiền lương và chi trả lương, tiền lương làm thêm giờ cho NLĐ trong toàn bộ doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp sử dụng hàng ngàn lao động sản xuất. Bởi lẽ, doanh nghiệp phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho NLĐ và phải xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu.
Hơn nữa, với việc tháng nào NLĐ cũng phải làm thêm giờ theo cách này, doanh nghiệp có thể rơi vào trường hợp sử dụng NLĐ làm thêm quá 200 giờ trong một năm hoặc quá 300 giờ trong một năm trong các trường hợp đặc biệt được Chính phủ quy định, tức là đã vi phạm điều 106.2 của Bộ luật Lao động và có thể bị xử phạt lên đến 100 triệu đồng(3).
Nghiêm trọng nhất là việc tách tiền lương làm thêm giờ để giảm số thuế thu nhập cá nhân cho NLĐ có thể bị xem là hành vi trốn thuế, gian lận thuế. Hậu quả doanh nghiệp phải gánh chịu có khi lớn hơn nhiều lần so với số tiền doanh nghiệp đã không đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ từ việc áp dụng cách làm này.
Kết hợp cả hai cách trên
Để khắc phục những rủi ro pháp lý và sự phức tạp của công tác tiền lương, kế toán trong cách làm thứ hai, nhiều doanh nghiệp đã linh hoạt áp dụng kết hợp hai cách làm trên đây. Sự mềm dẻo này phần nào giúp doanh nghiệp khắc phục được khả năng NLĐ có thể làm quá số giờ làm thêm tối đa theo quy định, không áp dụng đối với bộ phận NLĐ làm văn phòng, đồng thời xem ra cũng có vẻ hợp lý hơn khi xen kẽ tháng trước NLĐ làm thêm giờ, tháng sau NLĐ được thưởng vì đã có thành tích tốt trong tháng trước. Dù vậy, doanh nghiệp chắc chắn không thể né tránh được một thực tế là phải có hệ thống tính toán tiền lương, nhân sự, kế toán rất tốt với đầy đủ các hồ sơ pháp lý, chứng từ chứng minh tính hợp pháp và hợp lý của cách làm mà doanh nghiệp đang thực hiện.
Tuy nhiên, dù đang làm cách nào, tâm lý chung của doanh nghiệp là “vừa làm, vừa lo”.
(Kinh Tế Sài Gòn Online)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "