PHÒNG TCHC

PHÒNG TCHC

Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)

Hiện nay phát triển thương mại nông-lâm-thủy sản chủ yếu tập trung vào thị trường xuất khẩu, chưa quan tâm đúng mức tới thị trường trong nước.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã nhìn nhận như vậy tại báo cáo về việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn, vừa được gửi đến các vị đại biểu Quốc hội.

Con số được Bộ trưởng nêu để minh chứng cho nhận định trên là tỷ lệ tiêu thụ trong nước đối với cà phê là 10%, điều 5%, chè 50%, cao su 25%, cá tra 5-7%.

Báo cáo khái quát, hình thức giao dịch nông lâm thủy sản phổ biến là mua bán tự do, giao hàng ngay, việc mua bán hàng hóa thông qua ký kết hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân chưa phổ biến. Mua bán giao dịch qua chợ đầu mối, trung tâm giao dịch còn hạn chế.

Phần lớn hàng hóa nông lâm thủy sản được giao dịch, phân phối thông qua kênh truyền thống là các chợ. Tỷ lệ hàng hóa được giao dịch phân phối qua các cửa hàng hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại) còn thấp và chủ yếu mới tập trung tại các đô thị lớn. 

Tích cực tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho nông, lâm, thủy sản là một trong nhiều yêu cầu của Quốc hội với các vị tư lệnh ngành có liên quan, trong đó có Bộ trưởng Cao Đức Phát.

Chủ yếu tập trung vào thị trường xuất khẩu, song theo báo cáo thì xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn.

Hoạt động xuất khẩu chủ yếu vẫn là các sản phẩm nông sản thô, chưa có sản phẩm nông sản mũi nhọn có giá trị gia tăng cao và thương hiệu mạnh, Bộ trưởng khái quát.

Về thị trường xuất khẩu, hàng hóa nông lâm thủy sản của Việt Nam mới chỉ tập trung vào những thị trường - ngành hàng lớn còn ít chú ý phát triển các thị trường - ngành hàng có nhiều tiềm năng. 

Dẫn số liệu từ tháng 8/2013,báo cáo cho biết các thị trường lớn, truyền thống và các mặt hàng có lợi thế chiếm tỷ lệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản: Mỹ (2,7%), Trung Quốc (2,4%), Nhật (1,3%); gỗ và các sản phẩm gỗ (18,7%), gạo (11,8%), cà phê (11,5%), tôm (9,5%), cao su (8%), cá tra (6,3%), hạt điều (5,9%).

Báo cáo cũng nêu một số kết quả cụ thể, như kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản năm 2014 đạt gần 30,54 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2013. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính đạt 14,35 tỷ USD, tăng 9,9%; Giá trị xuất khẩu thuỷ sản đạt 7,83 tỷ USD, tăng 17,1%; Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính đạt 6,56 tỷ USD, tăng 11,8% so với năm 2013. 

Đến nay đã có 10 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, gồm có gạo, cà phê, cao su, điều, tiêu, sắn, rau quả, tôm, cá tra, lâm sản.

Năm 2010 hàng hóa nông lâm thủy sản của Việt Nam đã chỉ có mặt ở 117 quốc gia và vùng lãnh thổ, đến năm 2014 đã tăng lên là 129 quốc gia và vùng lãnh thổ, Bộ trưởng thông tin thêm.

Định hướng phát triển thị trường nông lâm thủy sản được nêu tại báo cáo là giai đoạn 2015-2020 phấn đấu tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt mức 10-15%. 

Vẫn lấy mốc đến năm 2020, Bộ trưởng xác định tỷ lệ hàng nông sản tiêu thụ qua hợp đồng chiếm 25-30%; tỷ trọng hàng nông lâm thủy sản qua hệ thống kênh phân phối hiện đại như trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện ích đạt 20-30%.

Ngành nông nghiệp cũng sẽ chú trọng hơn vào phát triển thị trường trong nước, đặc biệt là thị trường nông thôn (chiếm tới hơn 70% dân số và là nhóm tiêu thụ nhóm lương thực, thực phẩm gấp 1,42-1,44 lần so với thành thị), theo thông tin từ Bộ trưởng.

Hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phục vụ xuất khẩu là một trong nhiều giải pháp phát triển thị trường nông lâm thủy sản được Bộ trưởng đề cập.

Theo đó, sẽ có chính sách ưu đãi về vốn và lãi suất cho doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu theo hướng: Mở rộng định mức vay và giãn thời hạn trả nợ vay ngân hàng cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu. Xem xét khoanh nợ cho các doanh nghiệp (kể cả các khoản vay từ ngân hàng thương mại).Mặt khác, cho phép thành lập một số quỹ phát triển ngành hàng, trước mắt cho các ngành hàng chủ lực như cà phê, cá tra, tôm... để góp phần ổn định sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, báo cáo viết.

(Nguyên Vũ - Vneconomy)

Gãy khúc và dao động mạnh trên đồ thị giá của thị trường cà phê từ đầu vụ đến nay đang báo hiệu sẽ có sóng to gió dữ. Xuất hiện trên thương trường nhiều hiện tượng “khiêu chiến”, nhưng liệu hạt cà phê Việt Nam liều “xông trận” hay ẩn náu chờ cơ hội như năm trước? 

Dù mới ở tháng đầu tiên của niên vụ, thị trường cà phê đã vừa trải qua một cơn “bão tố” ngay ngày giao dịch cuối tuần, hôm qua 16-10 tức rạng sáng 17-10 giờ Việt Nam.

Giá hai sàn kỳ hạn cà phê tại châu Âu và Mỹ rớt thê thảm. Đóng cửa sàn kỳ hạn London, giá cà phê robusta giảm 42 đô la Mỹ/tấn trong ngày nhưng mất 15 đô la/tấn so với tuần trước (xin xem biểu đồ 1). Giá giao dịch arabica tại sàn Ice New York càng tệ hơn, mất 7,9 xu/cân Anh (cts/lb) trong ngày (tương đương gần 175 đô la/tấn) chốt tại 129,20 cts/lb và như vậy giảm 5,7 cts/lb so với cách đây 7 ngày.

Trong tuần qua, tin mưa chưa về để giúp hoa cà phê Brazil đậu trái loan truyền rất mạnh nên giúp giá đầu tuần trên các sàn kỳ hạn cà phê tăng tốt. Nhờ vậy, giá cà phê nguyên liệu nhiều nơi trên thị trường nội địa Việt Nam có cơ hội lên 36,5 triệu đồng/tấn. Nhưng chỉ trong hai ngày cuối, khi giá kỳ hạn yếu và sập mạnh, giá cà phê giao dịch sáng nay 17-10 chỉ còn ở mức 35 triệu đồng/tấn.

Yếu tố nào làm giá rớt?

 

                                       Biểu đồ 1: Diễn biến giá đóng cửa trên sàn kỳ hạn robusta London (tác giả tổng hợp)

Rất có thể người ta đưa tin hạn hán tại Brazil để kinh doanh tài chính vì “hạn hán đang xảy ra, nhưng sao hai sàn kỳ hạn cà phê vẫn sập?” Một chuyên gia ngành hàng thắc mắc.

Theo ông, thị trường chao đảo mạnh, khi tăng cao, khi xuống thấp rất bất ngờ và chóng vánh (xin theo dõi biểu đồ 1) cũng còn có dụng ý tạo rủi ro cho các nhà xuất khẩu ở các nước sản xuất, loại họ ra trong giai đoạn này vì yếu tố kinh doanh tài chính hơn là kinh doanh cà phê thực.

Tuy nhiên, giá kỳ hạn cà phê rớt mạnh còn chịu ảnh hưởng bởi đồng real Brazil mất giá sau khi nước này bị hạ mức tín nhiệm đầu tư cộng với tin Colombia, nước sản xuất cà phê arabica lớn thứ nhì thế giới, quyết định cho xuất khẩu cà phê thứ và phế phẩm. Quyết định này có hiệu lực ngay. Về lâu về dài, lượng arabica chất lượng xấu này sẽ giành thị phần của robusta là loại cà phê Việt Nam thường xuất bán để chế biến cà phê hòa tan.

Nhìn lại “thế” thị trường của hạt cà phê Việt Nam

Thống kê của Tổng cục Hải quan ước trong cả niên vụ 2014-15 Việt Nam chỉ xuất khẩu 21,02 triệu bao cà phê tương đương với 1,26 triệu tấn, giảm 21,6% so với niên vụ trước và cũng là năm có lượng cà phê xuất khẩu thấp nhất tính từ năm 2010.

Dựa trên ước báo ấy, xuất khẩu hàng tháng của Việt Nam năm vừa qua chỉ dừng ở mức 105.000 tấn/tháng, giảm bình quân từ 20-30.000 tấn/tháng. Nhiều người cho rằng sở dĩ xuất khẩu giảm là do giá kỳ hạn và thị trường thấp, đặc biệt trên thị trường nội địa, giá đỉnh cao nhất trong niên vụ cũ cũng chỉ đạt 41 triệu đồng/tấn so với trước là 45-46 triệu đồng/tấn và giá thấp nhất chỉ quanh mức 34-35 triệu đồng/tấn. Một nguyên nhân quan trọng khác là giá cà phê của Việt Nam mất tính cạnh tranh do đồng tiền của các nước cạnh tranh bị phá giá mạnh khiến cà phê của họ có giá rẻ hơn trên thị trường quốc tế.

Đồng nội tệ của ba nước xuất khẩu cà phê cạnh tranh với nước ta là Brazil, Colombia và Indonesia mất giá mạnh so với đồng đô la Mỹ, có nước phá giá đến 50-70%/năm trong khi đồng tiền Việt Nam chỉ mất giá chừng 5%. Đồng nội tệ các nước sản xuất cà phê mất giá so với đồng đô la Mỹ đã kích thích nông dân các nước này bán mạnh dù giá kỳ hạn rớt nhưng thu hồi bằng đồng nội tệ của họ trên giá bán cà phê vẫn cao, thậm chí còn có lời.

Điều này được ông Đỗ Hà Nam, Phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê&Ca cao Việt Nam (Vicofa) xác nhận trong hội nghị giao ban xuất khẩu tại TPHCM ngày 12-10-2015 khi ông báo rằng “tỷ giá đồng real của Brazil giảm đến 70% so với đồng đô la Mỹ nên họ bán hàng ra ồ ạt khiến cà phê Việt Nam chịu ảnh hưởng không bán được”. Theo ông Nam, cà phê Việt Nam đang vào vụ mới nhưng tồn kho vẫn còn 400.000-500.000 tấn cà phê nhân.  

Tồn kho tại các nước tiêu thụ

 

                                    Biểu đồ 2: Tồn kho cà phê tại Bắc Mỹ 1988 đến nay (nguồn: GCA/Societe Generale)

Báo cáo ra định kỳ mới nhất của Hiệp hội Cà phê Nhân Mỹ (Green Coffee Association-GCA) cho biết rằng tính đến hết tháng 9-2015, tồn kho cà phê nhân tại các kho vùng Bắc Mỹ đạt 6.117.108 bao (60 kg x bao) hay 367.027 tấn, không tính khoảng 100.000 tấn đang trung chuyển hay đã nằm tại các xưởng chế biến, tăng gần 5.400 tấn so với cùng kỳ năm 2014. Đây cũng là mức tồn kho cao nhất tại vùng Bắc Mỹ tính từ cuối năm 2003 đến nay (xin xem biểu đồ 2).

Tồn kho cà phê tại châu Âu tính đến hết tháng 7-2015 đạt 714.566 tấn, tăng 19.392 tấn so với cùng kỳ năm 2014 và chưa tính chừng 200.000 tấn đang trung chuyển hay nằm tại các cơ sở chế biến, báo cáo của Hiệp hội Cà phê Châu Âu (European Coffee Federation – ECF) cho biết trong tuần qua.

Tại Nhật Bản, tồn kho cà phê nhân đến cuối tháng 8-2015 tăng lên mức kỷ lục, đạt 202.411 tấn, cao hơn 7% so với cùng kỳ năm 2014.

Như vậy, tổng cộng tồn kho tại các nước tiêu thụ theo thống kê thị trường biết được là 1.283.994 tấn, nếu cộng thêm 300.000 tấn đang trên đường tới các cơ sở chế biến và tại xưởng chế biến không được tính gộp vào các báo cáo trên, ta có chừng 1.600.000 triệu tấn.

Cũng cần lưu ý rằng, trong lượng tồn kho ấy, hiện có 114.000 tấn cà phê đạt chuẩn arabica thuộc sàn kỳ hạn Ice New York và 204.150 tấn đạt chuẩn thuộc sàn robusta Ice London với giá trị hàng hóa thời điểm tính trên giá niêm yết các sàn kỳ hạn ngày 15-10-2015 đạt chừng 700 triệu đô la Mỹ.

Bắc Mỹ, châu Âu và Nhật Bản là ba vùng tiêu thụ cà phê truyền thống. Các thống kê tồn kho có ảnh hưởng nhất định giá cả trên thị trường và các sàn kỳ hạn.

(Nguyễn Quang Bình - The Saigontimes)

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm 2015 ước đạt 120,7 tỷ USD, tăng 9,6%. Riêng nhóm hàng nông thủy sản, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 15,4 tỷ USD, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm 2014.

Chuẩn mực hóa khách hàng

Tại hội nghị giao ban xuất khẩu tháng 9 năm 2015 và triển khai các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu những tháng cuối năm vừa được Bộ Công Thương tổ chức tại TPHCM, đại diện các doanh nghiệp (DN), hiệp hội ngành hàng đã có những góp ý nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu, nhất là đối với các mặt hàng nông, thủy sản.

Ông Đỗ Hà Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê-Ca cao Việt Nam (ảnh bên trên), Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần tập đoàn Intimex cho biết, ngoài các thị trường tiêu thụ hàng hóa đơn thuần, hiện nay, còn xuất hiện các thị trường đầu cơ trên thế giới.

Khi hàng hóa có vẻ bị thiếu, các thị trường đầu cơ này sẽ ồ ạt mua hàng từ các thị trường khác, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, có một vấn đề mà các DN Việt Nam rất hay  gặp phải, đó là các thị trường đầu cơ mua ở dạng trả chậm, mua đưa hàng vào kho mới trả tiền, hoặc mua vào thanh toán sau. Việc này dẫn đến tình trạng khi lượng tồn kho của ta quá lớn, không bán được thì họ “quay ngoắt” nói hàng của chúng ta có vấn đề và trả hàng lại, hoặc ép giá xuống.

Ông Nam cho biết: “Khi chúng tôi sang làm việc với một DN kinh doanh gạo của Trung Quốc thì được biết trước đó đã có một DN Việt Nam đưa hàng sang và chấp nhận hàng đưa vào kho rồi mới lấy tiền. Tuy nhiên, khi chúng tôi yêu cầu phải thanh toán tín dụng chứng từ (L/C), phải đặt tiền cọc trước, thì họ vẫn chấp thuận”.

Điều này có nghĩa, các DN tại thị trường đầu cơ, lợi dụng sự “lỏng lẻo” của các DN Việt Nam để quyết định phương thức mua bán. Các DN tại thị trường này phân loại khách hàng, có những khách hàng mua bán theo kiểu “chợ trời”, có những khách hàng cần chữ tín thị họ vẫn mua bán theo tiêu chuẩn.

Chính vì vậy, ông Nam cảnh báo, trong mua bán, các DN nên chuẩn mực hóa khách hàng và chọn lựa khách hàng.

Cũng theo lãnh đạo Vicofa, hiện nay, hàng hóa tiêu thụ tại thị trường Nga rất tốt, tuy nhiên, DN đều phải vòng qua các nước xung quanh trước khi vào thị trường Nga, bởi gặp vấn đề về thanh toán.

Ông Nam đề xuất các cơ quan quản lý Nhà nước, nhất là Bộ Công Thương, cần có các thỏa thuận, phối hợp với phía bạn để có thể giúp DN thực hiện phương thức thanh toán hàng hóa theo hình thức mua đứt bán đoạn trên nguyên tắc trao đổi hàng hóa.

Rào cản kỹ thuật với thủy sản ngày càng tăng

Một vấn đề mà các DN trong ngành thủy sản hiện nay đang gặp phải đó là các hàng rào kỹ thuật mà các nước nhập khẩu dựng lên.

Ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần tập đoàn Thủy sản Minh Phú, một DN lớn trong ngành thủy sản cho biết, khi tham gia các hiệp định thương mại tự do, thuế xuất khẩu của Việt Nam sang các nước tham gia hiệp định thấp hoặc về 0%, nhưng họ lại lập nên những hàng rào kỹ thuật rất cao, cao hơn hàng rào kỹ thuật mà nước họ đang sử dụng. Nên DN phải thêm chi phí mới vượt qua hàng rào đó được.

Đồng thời, một số tiêu chuẩn kỹ thuật nước bạn chỉ áp dụng cho Việt Nam mà không áp dụng đối với các nước có cùng mặt hàng xuất khẩu, đã làm giảm sức cạnh tranh của DN.

Để ứng phó với những khó khăn mới này, nhiều DN cho rằng, cần có sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa giữa các DN với hiệp hội ngành hàng, cơ quan quản lý nhà nước, nhất là Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương nhằm đấu tranh, gỡ bỏ các rào cản phi lý cho DN xuất khẩu.

(Lê Anh - baochinhphu.vn)

Theo cựu giám đốc tập đoàn cà phê Neumann Kaffee Gruppe, cà phê robusta có thể sẽ vượt arabica nhờ sản lượng và nhu cầu tiêu thụ tăng. 

Ông Michael Neumann cho biết, thị phần cà phê robusta đã tăng lên 45% tính đến thời điểm hiện tại của năm 2015, từ mức 13% ghi nhận vào năm 1950. Dự báo đến năm 2030, cà phê robusta sẽ tiếp tục tăng, chiếm 55%sản lượng toàn cầu. Với tốc độ tăng trưởng như vậy, cà phê robusta được cho là có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn của thế giới - dự báo đạt 200 triệu bao đến cùng kỳ. Hiện tại, nhu cầu tiêu thụ cà phê của thế giới vào khoảng 50 triệu bao. 

Thị trường cà phê ngày càng phát triển theo đà tăng của dân số thế giới. Cà phê dần trở thành thức uống không thể thiếu đối với đại bộ phận người dân và nhu cầu uống cà phê được dự báo sẽ tăng lên 1,43 kg/người trong vòng 15 năm nữa, từ mức 1,2 kg/người hiện nay. 

Những yếu tố vĩ mô

Gần đây, thị phần cà phê robusta trong thương mại cà phê toàn cầu tăng mạnh, một phần nhờ loại cà phê này đã được một số nước, như Việt Nam, đưa vào trồng đại trà. Việt Nam với tỷ giá ngoại tệ ổn định giúp làm giảm biến động giá trong hoạt động mua - bán, từ đó ít tác động tới lợi ích của người trồng cà phê. Việt Nam hiện là nước sản xuất cà phền lớn thứ 2 thế giới sau khi được Ngân hàng Thế giới khuyến khích đưa loại cà phê robusta vào trồng ở các đồn điền lớn. 

Trong khi đó, một số khu vực sản xuất cà phê arabica lớn trên thế giới, như Trung Mỹ hay châu Phi, lại đang rơi vào khủng hoảng, khiến thị trường cà phê arabica cũng suy yếu theo. Điều này càng tạo ra khoảng cách lớn giữa hai loại cà phê robusta và arabica, theo bài phát biểu của ông Neumann tại Diễn đàn cà phê toàn cầu ở Milan. 

Hơn nữa, những người trồng và rang cà phê vừa tìm ra cách để cải thiện đáng kể chất lượng của loại cà phê robusta. Trước đây, robusta luôn bị xem là loại cà phê kém chất lượng hơn arabica. 

Lợi thế tăng trưởng

Xét về mặt tài chính, robusta cũng có lợi thế hơn arabica bởi chi phí sản xuất cà phê robusta đang giảm đáng kể, ông Neumann cho biết. 

Một người trồng cà phê arabica thông thường sẽ trồng được khoảng 3.000 cây cà phê/hecta với năng suất vào khoảng 1,5 tấn - 2 tấn/hecta. Trong khi đó, cà phê robusta cho năng suất 2,5 tấn - 4 tấn/hecta trên diện tích nhỏ hơn khoảng 1.000 cây - 1.500 cây/hecta. 

Như vậy, chi phí sản xuất cà phê robusta rẻ hơn 1.300 USD/tấn so với chi phí sản xuất arabica, ông Neumann tính toán.

Áp lực từ nhu cầu

Nhu cầu uống cà phê ngày càng tăng mạnh, từ mức 30 triệu bao, tương đương 0,88kg/người ghi nhận vào năm 1950. Nguyên nhân một phần nhờ hoạt động tái thiết lại châu Âu sau Thế chiến thứ II trong khi sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết lại giúp mở ra nhiều thị trường. 

"Châu Á trở thành khu vực tiêu thụ cà phê hàng đầu thế giới và các nước sản xuất cà phê bắt đầu khám phá ra cách pha chế thức uống cà phê", ông Neumann cho biết. 

Từng giữ chủ tịch của một tập đoàn cà phê lớn, ông Neumann luôn trăn trở về phương pháp để cải thiện tính cạnh tranh của cà phê và nâng cao mức sống của người nông dân trồng cà phê. Trong thời kỳ tại chức, ông Neumann đã mua lại công ty đối thủ - Bernhard Rothfos vào năm 1988 và hình thành lên tập đoàn Neumann Kaffee Gruppe ngày nay. 

Nguyễn Dung (Theo AgriMoney/ Vinanet)

English Vietnam

PHÒNG KINH DOANH

     
 Tel / Whatsapp:
      +84 905 468 706 (Ms LOAN)

DỊCH VỤ VÉ MÁY BAY

Ms Hằng: 098 998 9992

Ms Thanh: 0901 307 308

VIDEO CLIP

THÀNH TÍCH

 

 

        

 

" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "

Default Theme
Layout Direction
Body
Background Color [r]
Text color [r]
Top
Top Background Image
Background Color [r]
Text color [r]
Bottom
Bottom Background Image
Background Color [r]
Text color [r]