Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Đã 18 năm nay, Việt Nam liên tục đứng vị trí số 1 toàn cầu về khối lượng hồ tiêu xuất khẩu. Đặc biệt, nhờ diện tích gieo trồng loại cây này tăng mạnh, Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ để trở thành nước có diện tích và sản lượng thu hoạch tiêu lớn nhất thế giới, với 130.000ha, sản lượng 180.000 tấn/năm.
Đứng đầu danh sách nhập khẩu nhiều hạt tiêu nhất của Việt Nam là Mỹ, với 4.400 tấn trong tháng 8, trị giá 17.086 USD. Tính chung 8 tháng qua, Mỹ thu mua 43.277 tấn tiêu từ Việt Nam, trị giá 155,620 triệu USD, tăng 13% về lượng và 63,1% về giá trị so với cùng kì năm 2020.
Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống Nhất xếp thứ 2 khi sản lượng nhập khẩu hạt tiêu Việt Nam tăng 59,7% so với cùng kỳ.
Cụ thể, 8 tháng đầu năm, nước này thu mua 12.763 tấn tiêu Việt Nam, trị giá 44,177 triệu USD, tăng 156,6% về giá so với năm 2020.
Thị trường châu Âu cũng đẩy mạnh thu mua tiêu từ Việt Nam, như Đức, Hà Lan, Pháp, Anh...
Ngay cả "ông lớn" luôn cạnh tranh khốc liệt với Việt Nam trên thị trường hồ tiêu là Ấn Độ, cũng tăng thu mua tiêu Việt Nam.
Cụ thể, tháng 8/2021, các doanh nghiệp Ấn Độ thu mua 527 tấn tiêu, trị giá hơn 2,1 triệu USD. Tính chung 8 tháng qua, Ấn Độ thu mua hơn 10.000 tấn tiêu Việt Nam, trị giá hơn 34,2 triệu USD. So với 8 tháng năm 2020, tăng 2,4% về lượng và 58,5% về giá trị.
Đứng số 1 thế giới về xuất khẩu "vàng đen", Việt Nam vẫn nhập hàng ngàn tấn tiêu
Mặc dù là quốc gia chiếm tới gần 60% sản lượng hồ tiêu xuất khẩu toàn cầu (năm 2020), song hàng năm Việt Nam vẫn nhập khẩu một lượng hạt tiêu nhất định.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam đã nhập khẩu 19.272 tấn tiêu. Trong đó tiêu đen nhập khẩu 14.159 tấn, tiêu trắng 5.113 tấn, so với cùng kỳ 2020, lượng nhập khẩu giảm 0,3%.
Olam là doanh nghiệp nhập khẩu nhiều hạt tiêu nhất với 8.548 tấn, chiếm 44,4% tổng lượng nhập khẩu. Tiếp theo là Harris Freeman 1.914 tấn, Gia vị Sơn Hà 1.742 tấn, KSS Việt Nam 1.368 tấn, Vinh Hưng 1.017 tấn,...
Trong tháng 8, Việt Nam tăng nhập khẩu hạt tiêu của Campuchia (tăng 79,7%), giảm nhập của Brazil (giảm 21,7%)...
Hiện Indonesia là quốc gia xuất khẩu tiêu trắng chủ yếu sang Việt Nam đạt 5.047 tấn.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), dự báo xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong thời gian tới vẫn có nhiều tín hiệu tốt khi các doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua phục vụ thị trường cuối năm; tình hình dịch Covid-19 dần được kiểm soát tốt, tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá, xuất khẩu.
Nguồn: Báo Điện Tử Dân Việt
Trước thềm vụ thu hoạch mới, giá cà phê trong nước vẫn liên tục tăng. Hiện giá cà phê dao động từ 40.600 - 41.100 đồng/kg. Dự báo giá cà phê kỳ hạn sẽ còn ở mức cao khi nguồn cung chưa ổn định, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài và giá cước vận tải biển vẫn còn cao ngất ngưởng.
Giá cà phê biến động tăng "dữ dội", xuất khẩu bội thu 2,23 tỷ USD. Theo ghi nhận của PV Dân Việt, giá cà phê trong tuần qua tăng liên tiếp. Hiện giá cà phê tại Đắk Lắk ở mức 40.800 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg so với ngày 22/10. Giá cà phê tại Lâm Đồng ở mức 39.900 đồng/kg. Tại Gia Lai, Đắk Nông, giá cà phê hôm nay khoảng 40.700 đồng/kg. Tính chung cả tuần vừa qua, giá cà phê nhân xô tại Tây Nguyên tăng từ 400 - 500 đồng/kg, lên mức 40.600 - 41.100 đồng/kg. Trao đổi với PV Dân Việt mới đây, ông Phan Huy Thông - Chủ tịch HĐQT Phúc Sinh Group cho biết, thời gian qua thị trường cà phê liên tục biến động theo chiều hướng tăng. Có tuần, giá cà phê tăng "dữ dội" do nhu cầu thị trường tăng lên mà vận chuyển lại gặp khó khăn. "Chưa bao giờ lượng cà phê bị tồn ở cảng nhiều như vậy, hàng trăm ngàn tấn. Nguyên nhân là do vận tải biển bị ách tắc, tình trạng thiếu container rỗng tiếp tục diễn ra..." - ông Thông nói.
Trên thị trường thế giới, trong tuần vừa qua giá cà phê Robusta tại thị trường London có 4 phiên tăng liên tiếp cuối tuần, chỉ có 1 phiên giảm.
Giá cà phê Robusta kỳ hạn giao ngay tháng 11 tăng tất cả 24 USD, tức tăng 1,14 %, lên 2.134 USD/tấn, trong khi kỳ hạn giao tháng 1/2022 tăng tất cả 20 USD, tức tăng 0,94 %, lên 2.141 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 3/2022 tăng tất cả 13 USD, tức tăng 0,62 %, lên 2.097 USD/tấn , các mức tăng đáng kể. Khối lượng giao dịch trên mức trung bình.
Tại cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh, giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% giao dịch ở mức giá 2.165 USD/tấn, chênh lệch +55 USD/tấn, giảm 9 USD/tấn (tương đương mức giảm 0,4%) so với ngày 8/10/2021.
Giá cà phê xuất khẩu cao nhất 4 năm qua
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, tháng 9/2021, xuất khẩu cà phê của Việt Nam giảm 10,2% về lượng và giảm 6,6% về trị giá so với tháng 8/2021. Tuy nhiên, nếu so với tháng 9/2020 thì tăng 0,6% về lượng và tăng 11,7% về trị giá, đạt 100,34 nghìn tấn, trị giá 210 triệu USD.
Tính chung trong 9 tháng năm 2021, xuất khẩu cà phê của nước ta giảm 5,4% về lượng, nhưng tăng 3,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020, đạt 1,18 triệu tấn, trị giá 2,23 tỷ USD. Đây là con số đáng mừng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, chi phí vận chuyển tăng cao.
Điều đặc biệt là giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam đang đạt mức cao nhất kể từ tháng 12/2017. Cụ thể, tháng 9/2021, giá cà phê xuất khẩu bình quân đạt 2.093 USD/tấn, tăng 4% so với tháng 8/2021 và tăng 11% so với tháng 9/2020.
Tính chung 9 tháng năm 2021, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam đạt 1.884 USD/tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2020.
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dự báo, trong các tháng tới xuất khẩu cà phê của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng. Nhu cầu tiêu thụ toàn cầu tăng, trong khi Việt Nam bước vào vụ thu hoạch cà phê niên vụ 2021/2022. Bên cạnh đó, các biện pháp giãn cách xã hội đang dần được nới lỏng, tạo thuận lợi cho việc thu hoạch và vận chuyển các mặt hàng, trong đó có cà phê.
Nguồn: Báo Dân Việt
So với USD, VND tăng giá khoảng gần 1,5% kể từ đầu năm đến nay. Thậm chí đà giảm của USD được dự báo là chưa dừng và có thể xuống 22.525 đồng/USD vào cuối năm nay. Tỷ giá giảm tác động không nhỏ tới các doanh nghiệp xuất khẩu, ngược lại doanh nghiệp nhập khẩu lại đang hưởng lợi “kép” từ lãi suất và tỷ giá giảm.
Theo dõi các diễn biến tỷ giá thời gian qua có thể thấy, trong khi các đồng tiền tại các nước mới nổi ở Châu Á có diễn biến giảm giá so với USD thì VND lại lên giá từ đầu năm đến nay.
Theo báo cáo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt, đồng USD có xu hướng tăng trở lại, 4,77% so với cuối năm 2020, tăng giá so với phần lớn các đồng tiền tại các nước mới nổi ở châu Á.
Tuy nhiên, so với VND, đồng USD lại đang mất giá khoảng gần 1,5% kể từ đầu năm đến nay. Thậm chí đà giảm của USD được dự báo là chưa dừng và có thể xuống 22.525 đồng/USD vào cuối năm nay – theo HSBC.
Trao đổi với Dân Việt, đại diện của một doanh nghiệp nhập khẩu cho biết, khác với những năm trước đây, tỷ giá giảm là lợi thế của các doanh nghiệp nhập khẩu.
"Năm nay tỷ giá thấp, tỷ giá xuống đến mức 22.700 VND/USD trong lần giao dịch gần nhất của doanh nghiệp. Rất có lợi cho doanh nghiệp chuyên nhập khẩu hàng hóa như chúng tôi, vì khi quy đổi sang tiền đồng, doanh nghiệp sẽ mất ít hơn", vị đại diện doanh nghiệp chia sẻ.
Hơn nữa, cũng theo vị này số tiền doanh nghiệp "tiết kiệm" được nhờ tỷ giá giảm bù được "kha khá" cho khoản phí tăng từ vận tải.
Theo tính toán của doanh nghiệp, chi phí logistic của doanh nghiệp tăng 30%- 40%, tuy nhiên khoản chi phí này được bù đắp bởi tỷ giá giảm, vì vậy chi phí tổng thể không tăng, kết quả cuối cùng lợi nhuận của doanh nghiệp không bị suy giảm.
Chưa kể, mặt bằng lãi suất thấp cũng đang là yếu tố thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, hay nói cách khác doanh nghiệp nhập khẩu đang "lợi đơn, lợi kép" từ chính sách tỷ giá và lãi suất.
Ngược lại, lợi cho xuất khẩu sẽ là bất lợi cho nhập khẩu. Chia sẻ với PV Dân Việt đại diện Tổng công ty May Hưng Yên cho biết, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa đang bị "đắt" do tỷ giá giảm.
Đại diện doanh nghiệp này cho biết, doanh nghiệp ông xuất khẩu 1 triệu USD hàng hóa, tỷ giá giảm như trong hiện nay khiến cho doanh nghiệp mất 600 triệu đồng. Hiện nay, May Hưng Yên mỗi năm gia công khoảng 200 triệu USD đã mất khoảng 13 tỷ đồng - một con số rất lớn trong bối cảnh chi phí logistic tăng mạnh và các chi phí khác liên quan đến phòng chống dịch bệnh đang là gánh nặng đối với doanh nghiệp.
Việc giữ tỷ giá ở mức bình quân như năm 2020 là trên 23.000 đồng/USD sẽ giữ cho doanh nghiệp xuất khẩu đỡ được các gánh nặng chi phí khác, còn tiền đồng tăng giá như hiện nay đang làm khó các doanh nghiệp xuất khẩu.
Cùng quan điểm, ông Thân Đức Việt - Tổng giám đốc Công ty May 10 nhận định, tỷ giá ổn định tạo ra sự ổn định kế hoạch tài chính và dòng tiền cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, thời gian qua tỷ giá ổn định trên đà đồng Việt Nam tăng giá thì đối với đơn vị xuất khẩu như May 10 lại là điều không tốt, ngược lại các đơn vị nhập khẩu đang được hưởng lợi.
Tỷ giá có giảm bất thường?
TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế cũng phải thừa nhận, diễn biến của tỷ giá USD/VND có vẻ hơi "bất thường một chút" so với những năm trước khi VND tăng giá 1,5% so với đồng USD, trong khi đó đồng USD tăng giá so với nhiều đồng tiền khác trên thế giới.
"Trong những năm qua, thông thường đồng nội tệ của Việt Nam thường mất giá khoảng 1- 2% so với USD. Đặc trong bối cảnh kinh tế của chúng ta là tương đối xấu trong 9 tháng đầu năm nhưng VND lại lên giá, phải chăng đây là yếu tố bất lợi, yếu tố này cần phải được đưa ra xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng hơn", ông Lực đặt vấn đề.
Theo ông Lực, tỷ giá giảm do các nguyên nhân chính như cân đối về quan hệ cung cầu về ngoại tệ của Việt Nam vẫn tương đối ổn mặc dù có nhập siêu ngược lại giải ngân FDI và kiều hối vẫn tăng trưởng tích cực; Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh cách thức điều hành tỷ giá, thay vì thực hiện mua ngoại tệ có kỳ hạn như hồi tháng 1/2021 thì đến tháng 8, Ngân hàng Nhà nước thôi không mua kỳ hạn để thị trường điều tiết, và cũng là cam kết với Mỹ rằng Việt Nam không thao túng tiền tệ - theo ông Lực.
"Tỷ giá là con dao 2 lưỡi, khi tỷ giá giảm tức là VND tăng giá sẽ gây bất lợi cho nhà xuất khẩu. Khi đó, hoạt động xuất khẩu chậm lại và ngược lại, nhà nhập khẩu có lợi; từ đó, làm tăng nhập siêu. Điều đáng nói, khi kinh tế gặp khó khăn, ngân hàng các nước sẽ có động thái giảm giá đồng tiền của nước mình để tăng tính cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu; điều này đặc biệt đúng với các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu và vốn FDI như Việt Nam. Như vậy, việc VND tăng giá 1,5% từ đầu năm đến nay rõ ràng là không có lợi cho nền kinh tế", chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nói với Dân Việt.
Nguồn: danviet.vn
Cơ hội để doanh nghiệp tận dụng các giải pháp tài chính giữa biến động của thị trường cà phê
Cả một thời gian dài giữa đại dịch người tiêu dùng bị hạn chế đi du lịch, ra hàng quán, nhà hàng, đành phải ngồi nhà nhâm nhi cà phê do lệnh phong tỏa ở hầu hết các quốc gia. Đằng sau tình cảnh ấy, chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung ứng của ngành cà phê toàn cầu điêu đứng trước những lần dịch bùng phát liên tiếp tại Brazil, Ấn Độ và ngay cả Việt Nam.
Giá cước vận tải biển cao ngất ngưởng do thiếu containers rỗng và chỗ trên tàu. Ước tính mỗi tấn cà phê từ các cảng biển Việt Nam đi Châu Âu phải cõng chi phí từ 350 - 370 USD/tấn, so với trước đây chừng 50 - 80 USD/tấn.
Chi phí vận tải, lưu kho, tài chính, hao hụt tự nhiên…mỗi lúc một cao, đẩy giá đầu vào lên không ngừng. Cả nhà nhập khẩu và xuất khẩu đều trong tình trạng lưỡng lự đưa hàng vào lưu thông.
Tình hình cung - cầu cà phê
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã đưa ra dự báo tình hình cung - cầu cà phê thế giới với những nét chính như sau:
Tính trong niên vụ hiện hành sẽ kết thúc vào ngày 30/9/2021, thế giới ước đạt 164,31 triệu bao (bao=60 kg) tăng so với niên vụ cũ là 177,48 triệu bao. 4 nước sản xuất cà phê hàng đầu chiếm chừng 112 triệu bao, chiếm gần 2/3 sản lượng toàn cầu, bao gồm Brazil 56,3 triệu, Việt Nam 30,83 triệu, Colombia 14,1 triệu và Indonesia 10,63 triệu bao.
Trong khi sản lượng tại các nước cung cấp cà phê lớn thứ ba và thứ tư khá ổn định, Brazil và Việt Nam đóng vai trò quyết định trong tổng nguồn cung. Brazil mất mùa arabica nhưng được mùa robusta và Việt Nam cũng được USDA ước có nhiều cà phê hơn.
Tuy niên vụ này được đánh giá là mất mùa, nhưng trong thời gian ngắn tới, khi Brazil quay lại chu kỳ được mùa, sẽ tác động đến thị phần cà phê của Việt Nam, giá cả trên các sàn phái sinh cà phê London và New York.
Khi dịch COVID-19 có thể vẫn còn dai dẳng, nhà kinh doanh cà phê Việt Nam nói riêng, các nhà kinh doanh mặt hàng thương phẩm nói chung như năng lượng, kim loại và các mặt hàng nông sản như ngô (bắp), đậu tương (nành), lúa mì, bông vải…cần thiết nên sử dụng các công cụ kinh doanh tài chính để tự bảo vệ mình giữa một thương trường đầy sóng gió sắp tới.
Hiện nay, các ngân hàng đã quan tâm và chuẩn bị nhiều giải pháp tài chính khác nhau để giúp doanh nghiệp bảo hiểm rủi ro và thu được lợi ích khi thị trường biến động. Trong đó có thể kể đến Sacombank với nhiều năm kinh nghiệm cung cấp các hợp đồng tương lai và quyền chọn hàng hóa, công cụ bảo vệ giá cả giữa các thay đổi liên tục của thị trường hàng hóa.
Giá cà phê sẽ thế nào?
Mới đây, giá cà phê trên hai sàn cà phê phái sinh đã chứng kiến những bước nhảy bất ngờ, chỉ trong một phiên giao dịch, giá robusta dao động 80 - 90 USD/tấn để vào ngày 1/6/2021 đạt đỉnh 1.642 USD/tấn, giá arabica tăng giảm đến 200 - 300 USD/tấn với đỉnh 168,65 cent/pound cùng ngày.
Trong lịch sử, tháng 5 hàng năm là thời gian mua bán chậm, nhưng tháng 5/2021 đã có cú đột biến tăng mạnh trên hai sàn cà phê. Giá arabica lên mức cao nhất tính từ bốn năm rưỡi và robusta lên mức cao nhất tính từ hai năm rưỡi.
Hiệu suất đầu tư trên hai sàn cà phê trong tháng 05/2021 đều tăng với London +116 USD/tấn tăng 7,79% và New York +16,50 cent/pound hay gần 364 USD/tấn tương đương với 11,16%.
Có thể thấy rằng giá cà phê như bao nhiêu mặt hàng khác đang được giao dịch thông qua các sàn phái sinh, đều theo hướng tăng cho đến cuối năm 2021.
Giá cà phê các sàn phái sinh và trên thị trường nội địa dự báo còn những dao động lớn, nhà kinh doanh cần tìm các giải pháp phòng ngừa và tự bảo vệ chính mình.
Bích Thu (vietnambiz.vn)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "