Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Trong tuần qua, nhìn chung giá lúa gạo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục duy trì ổn định, không có nhiều biến động.
Trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, cùng với chủ trương “xanh nhà hơn già đồng”, các địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ thu hoạch để đảm bảo mùa vụ tiếp theo.
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho biết, giá lúa ở các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định, một số loại tăng, giảm nhẹ. Tại Sóc Trăng, giá lúa tương đương so với tuần trước, như: RVT là 7.450 đồng/kg, OM4900 là 8.000 đồng/kg… Riêng Đài thơm 8 là 8.000 đồng/kg, giảm 400 đồng/kg so với tuần trước; ST24 là 8.250 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg. Còn tại Trà Vinh, lúa IR50404 có giá 6.900 đồng/kg, OM4900 là 7.000 đồng/kg, tương đương tuần trước.
Tại thành phố Cần Thơ, giá lúa cũng ổn định. Cụ thể, lúa Jamine khô ở mức 6.700 đồng/kg, OM 4218 là 6.600 đồng/kg. Riêng tại Tiền Giang, giá lúa có sự tăng nhẹ với mức 200 đồng/kg, như: IR50404 là 6.900 đồng/kg, OM4900 là 7.000 đồng/kg.
Còn tại An Giang, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, giá lúa tươi trên địa bàn cũng ổn định như: IR50404 là 5.100 - 5.300 đồng/kg; lúa Nhật là 7.500 - 7.600 đồng/kg, OM 5451 là 5.700 - 5.750 đồng/kg, OM18 là từ 6.000 - 6.200 đồng/kg, riêng Đài thơm 8 từ 6.000 - 6.200 đồng/kg, giảm nhẹ 200 đồng/kg. Ngoài ra, nếp tươi Long An có giá từ 4.400 - 4.600 đồng/kg.
Bên cạnh đó, giá một số mặt hàng gạo tại An Giang vẫn có sự ổn định. Giá gạo Nhật là 17.000 đồng/kg, nếp từ 14.000 - 15.000 đồng/kg, Jasmine 14.000 - 15.000 đồng/kg, Hương Lài 17.000 đồng/kg, gạo thường từ 11.500 - 12.000 đồng/kg…
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, cùng với chủ trương “xanh nhà hơn già đồng”, các địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ thu hoạch để đảm bảo mùa vụ tiếp theo. Đồng thời, triển khai hệ thống chế biến, tiêu thụ, đảm bảo nông sản không bị ách tắc nhiều như những ngày trước đây.
Trên cơ sở tình hình thu hoạch lúa Hè Thu và theo dõi diễn biến rầy nâu vào bẫy đèn, một số địa phương tỉnh An Giang chuẩn bị bước vào gieo cấy lúa Thu Đông. Vụ này, tỉnh An Giang khuyến cáo nông dân trên địa bàn xuống giống hai đợt để né rầy, phải tuân thủ lịch xuống giống đồng loạt, tập trung và theo khung lịch thời vụ chung của tỉnh.
Vụ Thu Đông, dự kiến An Giang xuống giống gần 170.000 ha. Tỉnh chỉ đạo mỗi địa phương xác định cơ cấu giống gồm 4 đến 5 giống chủ lực, từ 4 đến 5 giống bổ sung và vài giống triển vọng mới; trong đó, cơ cấu một giống không quá 20% và phấn đấu sử dụng 80% giống lúa chất lượng cao.
Trong khi thị trường lúa gạo trong nước có sự ổn định thì giá gạo xuất khẩu tiếp tục giảm xuống mức thấp của nhiều tháng tại các vựa lúa lớn ở châu Á giữa bối cảnh nhu cầu giảm trong khi nguồn cung tăng lên. Cùng với đó là đồng baht Thái suy yếu làm gia tăng sức ép cho các thương nhân Thái Lan.
Giá gạo 5% tấm của Việt Nam đã chạm mức thấp nhất trong hơn 16 tháng, giảm mạnh xuống còn từ 395 - 400 USD/tấn trong phiên 22/7 so với mức từ 465 - 470 USD/tấn trong tuần trước đó. Theo một thương nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên nhân giá gạo Việt Nam giảm là do nhu cầu suy yếu, trong khi giá các nước sản xuất gạo khác đưa ra rất thấp. Bên cạnh đó, nguồn cung trong nước đang tăng lên khi vụ thu hoạch Hè Thu đang trong giai đoạn đỉnh điểm.
Các thương nhân cho biết thêm, họ đã giảm thu mua từ nông dân do các hạn chế đi lại liên quan đến dịch bệnh COVID-19 tại quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới này sau Ấn Độ và Thái Lan.
Tại Ấn Độ, giá gạo đã chạm mức thấp của 16 tháng do việc chính phủ “giải phóng” các kho dự trữ gạo làm tăng nguồn cung trên thị trường. Giá gạo đồ 5% tấm của nước này được giao dịch ở mức từ 361 - 366 USD/tấn trong tuần này, giảm so với mức từ 364 - 368 USD/tấn của tuần trước. Một nhà xuất khẩu tại Kakinada ở bang Andhra Pradesh, miền nam Ấn Độ cho biết việc gieo trồng không được như mong đợi do lượng mưa thấp hơn ở miền Trung và miền Đông Ấn Độ.
Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan giảm xuống từ 395 - 410 USD/tấn trong ngày 22/7, mức thấp nhất trong gần 20 tháng, so với mức từ 405 - 412 USD/ tấn trong tuần trước đó. Theo một thương nhân tại Thái Lan, đồng baht suy yếu và việc không có người mua là nguyên nhân khiến giá gạo giảm.
Về thị trường nông sản Mỹ, giá các mặt hàng nông sản tại sàn Chicago (Mỹ) sụt giảm trong phiên giao dịch cuối tuần 23/7, với ngô dẫn đầu đà giảm.
Chốt phiên này, giá ngô giao tháng 12/2021 giảm 18,25 xu Mỹ (3,25%) xuống 5,43 USD/bushel. Giá lúa mỳ giao tháng 9/2021 giảm 8,25 xu Mỹ (1,19%) xuống 6,84 USD/bushel, còn giá đậu tương giao tháng 11/2021 giảm 10,5 xu Mỹ (0,77%) xuống 13,5175 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).
Công ty nghiên cứu AgResource có trụ sở tại Chicago cho biết, giá các mặt hàng nông sản trên sàn CBOT tiếp tục giảm do dự báo thời tiết ẩm ướt hơn tại các bang Iowa, Western Illinois và Tennessee vào cuối tuần tới. Các thương nhân đang chờ đợi báo cáo vụ mùa tháng Tám của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) sau nhiều tuần thời tiết thay đổi thất thường.
Mexico đã mua 100.000 tấn đậu tương Mỹ. Trong khi đó, Trung Quốc mua đậu tương từ Argentina trong tuần này. Các nhà phân tích ước tính trận lũ lụt lớn nhất lịch sử xảy ra tại tỉnh Hà Nam, miền trung Trung Quốc trong tuần này có khả năng làm ảnh hưởng đến từ 15 - 17% sản lượng ngô năm 2021 của Trung Quốc.
Dự báo nhập khẩu từ Argentina và Mỹ sẽ tăng, trong khi tốc độ xuất khẩu ngô ở Brazil giảm xuống còn từ 20 - 21 triệu tấn. Brazil sẽ trở thành nhà xuất khẩu lớn thứ ba thế giới trong niên vụ 2021-2022, sau Argentina.
Về thị trường cà phê thế giới, kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta giao tháng 9/2021 trên sàn ICE Europe - London tăng 10 USD/tấn lên 1.899 USD/tấn. Trong khi đó, giá cà phê Arabica giao tháng 9/2021 trên sàn ICE US - New York giảm 4,65 xu Mỹ/lb xuống 189 xu Mỹ/lb (1b =0,4535 kg). Tại thị trường trong nước, giá cà phê ngày 24/7 đang giao dịch quanh ngưỡng từ 36.700 - 37.600 đồng/kg.
Tình hình thời tiết và dịch bệnh bất ổn tại Brazil và Việt Nam, hai nhà cung cấp cà phê lớn nhất thế giới, đang làm cho thị trường cà phê thế giới nóng lên. Các nước sản xuất cà phê ở khu vực Đông Nam Á phải đang căng mình ngăn chặn biến thể mới của virus SARS-CoV-2 gây dịch bệnh COVID-19 lây lan, với các biện pháp giãn cách xã hội ngày càng gia tăng.
Bên cạnh đó, giới đầu cơ cà phê Brazil không chỉ lo ngại tình trạng sương giá, mà còn lo ngại các hiện tượng thời tiết cực đoan liên tiếp xảy ra tại đây. Mới đây nhất là hai đợt băng giá xảy đến trong vòng chưa đầy một tháng ở những vùng trồng cà phê chính của Brazil là Minas Gerais và Sao Paulo, ảnh hưởng nặng nề đến các hộ trồng cà phê.
Một số đánh giá sơ bộ cho thấy sản lượng cà phê vụ tới sẽ tổn thất từ 1- 2 triệu bao (1 bao=60kg). Tuy nhiên, một số người lại cho rằng, đánh giá đó là quá lạc quan, bởi trên thực tế mức độ thiệt hại cao hơn rất nhiều, khi mà Brazil chỉ mới bắt đầu bước vào mùa giá lạnh.
Bích Hồng - Minh Hằng (TTXVN)
Trong tuần qua, giá lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định.
Lãnh đạo các địa phương trong vùng đang nỗ lực tìm kiếm các phương án tháo gỡ những khó khăn để giúp nông dân thu hoạch lúa Hè Thu thuận lợi trong điều kiện dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp.
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho biết, giá lúa ở các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định. Tại Sóc Trăng, giá lúa tương đương so với tuần trước, như: Đài thơm 8 là 8.400 đồng/kg; ST24 là 8.150 đồng/kg; RVT là 7.450 đồng/kg, OM 4900 là 8.000 đồng/kg… Còn tại Trà Vinh, lúa IR 50404 có giá 6.900 đồng/kg, OM4900 là 7.000 đồng/kg…
Riêng tại thành phố Cần Thơ, giá lúa tăng nhẹ. Cụ thể, lúa jamine khô ở mức 6.700 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg; OM 4218 là 6.600 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg.
Còn tại An Giang, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, giá lúa tươi trên địa bàn địa phương cũng ổn định như: IR50404 từ 5.100 - 5.400 đồng/kg; lúa Nhật từ 7.500 - 7.600 đồng/kg, OM 5451 từ 5.500 - 5.700 đồng/kg, OM18 từ 6.200 - 6.200 đồng/kg, riêng Đài thơm 8 từ 6.200 - 6.350 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg. Ngoài ra, nếp tươi Long An có giá từ 4.400 - 4.600 đồng/kg.
Bên cạnh đó, giá một số mặt hàng gạo tại An Giang vẫn ổn định. Giá gạo Nhật là 17.000 đồng/kg, nếp từ 14.000 - 15.000 đồng/kg, Jasmine từ 14.000 - 15.000 đồng/kg, Hương Lài 17.000 đồng/kg, gạo thường từ 11.000 - 12.000 đồng/kg…
Hiện nhiều tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả nước dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp. Nhiều địa phương phải áp dụng giãn cách nên việc thu hoạch, lưu thông hàng hóa; trong đó, có mặt hàng lúa gạo đang gặp nhiều khó khăn. UBND tỉnh Đồng Tháp đã lên 3 kịch bản để thu hoạch, tiêu thụ nông sản trong bối cảnh dịch COVID-19.
UBND tỉnh Đồng Tháp yêu cầu, các mặt hàng nông sản của tỉnh được sản xuất, thu hoạch, chế biến và lưu thông, tiêu thụ phải đảm bảo nhanh, thuận lợi, an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh theo đúng quy định trong phòng, chống dịch COVID-19. Các ngành chức năng có liên quan hỗ trợ, giúp người dân, hợp tác xã từ công tác thu hoạch, chế biến và tiêu thụ lúa gạo khi vụ thu hoạch.
Tỉnh An Giang cũng hỗ trợ xét nghiệm COVID-19 để giúp dân thu hoạch 1,3 triệu tấn lúa Hè Thu. Tỉnh hỗ trợ xét nghiệm COVID-19 theo hình thức mẫu gộp đối với người thu hoạch, vận chuyển, thương lái, doanh nghiệp đến địa bàn thu mua lúa Hè Thu 2021. Các doanh nghiệp thực hiện vận chuyển và thu mua nông sản trên địa bàn tỉnh An Giang đăng ký danh sách phương tiện vận chuyển đường bộ. Theo đó, Sở Giao thông Vận tải sẽ hướng dẫn các thủ tục làm "thẻ xanh" vận chuyển hàng hoá đi qua các địa bàn đang giãn cách xã hội.
Cùng với sự ổn định của thị trường trong nước, giá gạo 5% tấm của Việt Nam cũng không đổi so với tuần trước, ở mức từ 465 - 470 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ tháng 7/2020. Một thương lái có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, người nông dân bắt đầu thu hoạch vụ mùa Hè Thu ở hầu hết khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhưng hoạt động bán cho thương lái chậm lại do các biện pháp hạn chế nhằm ngăn ngừa dịch COVID-19.
Các thương nhân cho rằng, giá gạo ở Việt Nam có thể giảm trong những tuần tới do nguồn cung tăng giữa lúc các biện pháp hạn chế ngăn ngừa dịch bệnh vẫn được duy trì. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ giảm xuống mức thấp nhất trong gần 16 tháng qua do nguồn cung mới được đưa vào thị trường nhưng nhu cầu vẫn thấp. Giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ được giao dịch ở mức từ 364 - 368 USD/tấn trong tuần này, giảm so với mức từ 367 - 371 USD/tấn trong tuần trước.
Một nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada, bang Andhra Pradesh, miền Nam Ấn Độ cho biết: “Nhu cầu xuất khẩu yếu. Nguồn cung ứng gạo tăng sau khi Chính phủ bắt đầu phân phối gạo cho người dân nghèo”. Tính đến ngày 9/7, diện tích trồng lúa của Ấn Độ đạt 11,5 triệu ha.
Bên cạnh đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan giảm xuống từ 405 - 412 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ tháng 12/2019, từ mức 410 - 425 USD/tấn trong tuần trước đó. Các nhà giao dịch tại Bangkok cho biết, đồng baht giảm giá so với đồng USD tiếp tục làm giảm giá gạo xuất khẩu. Số liệu chính thức cho thấy, xuất khẩu gạo của Thái Lan trong giai đoạn tháng 1-5/2021 đạt khoảng 1,78 triệu tấn gạo, giảm 31% so với cùng kỳ năm trước.
Về thị trường nông sản Mỹ, giá các mặt hàng nông sản tại sàn Chicago (Mỹ) diễn biến trái chiều trong phiên giao dịch cuối tuần 16/7, với giá ngô giảm trong khi giá lúa mỳ và đậu tương tăng.
Chốt phiên này, giá ngô giao tháng 12/2021 giảm 4,25 xu Mỹ (0,76%) xuống 5,52 USD/bushel. Giá lúa mỳ giao tháng 9/2021 tăng 20,5 xu Mỹ (3,05%) lên 6,925 USD/bushel, còn giá đậu tương giao tháng 11/2021 tăng 11,75 xu Mỹ (0,85%) lên 13,9175 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).
Công ty nghiên cứu AgResource, có trụ sở tại Chicago (Mỹ) lưu ý rằng, giá lúa mỳ tăng do dự báo sản lượng lúa mỳ của Nga sẽ giảm. Lúa mỳ vụ Xuân đạt mức cao kỷ lục mới khi các mô hình dự báo thời tiết kéo dài ấm áp và khô hoàn toàn ở miền Nam Canada đến ngày 26/7.
Theo dự báo, thời tiết sẽ khô hơn ở Minnesota và khu vực Trung Tây nước Mỹ. Công ty nghiên cứu AgResource cho rằng, diễn biến thời tiết ở Mỹ tiếp tục chi phối giá ngũ cốc.
Thị trường cà phê thế giới cho thấy, kết thúc phiên giao dịch mới đây, giá cà phê Robusta tại London giao tháng 9/2021 tăng 11 USD/tấn lên mức 1.767 USD/tấn. Còn giá cà phê Robusta giao tháng 11/2021 tăng 6 USD/tấn lên mức 1.756 USD/tấn. Trong khi đó, trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 9/2021 tăng 4,3 xu Mỹ/lb lên mức 161,35 xu Mỹ/lb, giao tháng 12/2021 tăng 4,2 xu Mỹ/lb lên mức 164.1 xu Mỹ/lb (1b =0,4535 kg).
Trong phiên giao dịch cuối tuần, giá cà phê thế giới đồng loạt tăng. Sau khi có thông tin về tình trạng sương giá tại các vùng trồng trọng điểm ở Brazil, giá cà phê Arabica đã quay đầu giảm. Tuy nhiên, khi thông tin trên được xác nhận là tầm ảnh hưởng không lớn đã kéo giá mặt hàng cà phê này quay trở lại.
Dự báo trong thời gian tới, giá cà phê sẽ tiếp tục phục hồi do nhu cầu tăng cao, trong khi sản lượng giảm do chịu tác động của thời tiết cực đoan tại một số quốc gia sản xuất lớn.
Trong khi đó, tại thị trường Việt Nam ngày 17/7, giá cà phê tăng trung bình 200 đồng/kg tại các vùng trọng điểm so với cùng thời điểm sáng hôm trước, ở mức từ 35.500 - 36.400 đồng/kg. Dự báo trong thời gian tới, giá cà phê sẽ tiếp tục phục hồi do nhu cầu tăng cao, trong khi sản lượng giảm.
Bích Hồng - Hà Chung (TTXVN)
Giá cà phê trên sàn phái sinh thương phẩm robusta London vào ngày giao dịch cuối tuần lập đỉnh mới tại 1.777 và đóng cửa tại 1.767 đô la Mỹ/tấn, gần mức cao nhất tính từ quí 4-2018. Thị trường trong nước cũng đã nâng lên quanh 37 triệu đồng/tấn, nhưng giao dịch không mấy nhộn nhịp. Tại sao? Liệu hướng tăng trên thị trường cà phê có còn trắc trở?
Trên sàn giao dịch robusta London, nơi các nhà kinh doanh cà phê Việt Nam thường dùng để tham chiếu, giá cứ nhồi lên mấy tuần liên tiếp. Hiệu suất đầu tư cà phê trên sàn này tính từ đầu năm đến nay tăng 24,09%, tương đương với 343 đô la Mỹ/tấn, khi đóng cửa cuối tuần chốt tại 1.767 đô la/tấn so với 1.424 lập vào ngày 31-12-2020. Giá phái sinh đang muốn tìm lại đỉnh cao gần nhất xuất hiện vào quí 4-2018 bấy giờ được ghi nhận là 1.792 đô la/tấn. Liệu giá cà phê nội địa có lên tương đồng với thời kỳ ấy tại mức 38,5 triệu đồng/tấn?
Nhiều nhà xuất khẩu cho rằng nhìn con số và riêng độ nhảy tại sàn London, ai cũng thấy còn đà tăng kể từ đầu tháng 7-2021 khi sàn chuyển cấu trúc giá từ thuận chiều sang nghịch đảo. Nên chuyện tăng lên mức ấy chỉ là vấn đề thời gian. Nhưng cụ thể đến khi nào thì đạt các mức ấy, không dễ có câu trả lời, nhất là giá cà phê trong nước.
Trong ngành cà phê, hai tháng 7 và 8 thường là thời gian các nhà kinh doanh và rang xay nghỉ hè nên mua bán chậm, giá cả dật dờ. Nhưng năm nay giá biến động lẹ làng nhưng giao dịch mua bán lại cho cảm giác “xót ruột”.
Giá tăng nhưng giao dịch trong nước trầm lắng
“Cách nay một tuần, có nhà nhập khẩu chào mua cà phê xuất khẩu 37,1 triệu/đồng/tấn nhưng không ai bán, họ chuyển sang chấp nhận mua cùng giá với hàng nguyên liệu cũng không mua được”, một doanh nhân tại TPHCM cho biết. Tuy vậy, cũng chỉ có người thiếu hàng hoặc mua để đầu cơ giá lên chứ không phải nhiều người nhảy vào mua một lúc “đại trà” như những năm trước. Như vậy, nhu cầu mua hàng như nhà nhập khẩu nêu trên nên được xem là trường hợp hiếm hoi.
Trong khi đó, người bán hàng thực đến nay không có sẵn cà phê trong tay do đã gởi hàng vào kho, dù muốn bán cũng không thể đòi được mức cao ấy mà chỉ quanh 36,5 triệu đồng/tấn vì chủ kho báo không có nhu cầu mua, nên giá rẻ mới chốt. Còn rút hàng ra? Chủ kho tính biết bao nhiêu phí và lãi gộp ngân hàng, nên cũng chỉ quanh mức thấp, thậm chí tệ hơn mức giá họ chấp thuận.
Bên bán không được tự do đã đành, bên mua còn quá nhiều hàng trong kho chưa giải phóng, nên mạch trao đổi đều bị tắc. Trong khi đó, hàng robusta Brazil đã thu hái xong cho năm nay với phần chắc robusta nước này được mùa, chừng 1,2 triệu tấn, bằng 2/3 sản lượng cà phê Việt Nam. Nên giá trên sàn hiện nay không do nước sản xuất cà phê robusta lớn nhất là Việt Nam quyết định, mà chính là Brazil và tiếp đó là Indonesia vì nước này cũng đã ra hàng niên vụ mới.
Mặt khác, so với giá bán xuất khẩu tính theo phương thức giao hàng qua lan can tàu (FOB), giá cà phê loại 2 của Brazil đang được tính cao hơn giá niêm yết sàn London đến 100 đô la/tấn, cao hơn giá cùng loại tối đa 5% đen bể của Việt Nam đến 200 đô la/tấn.
Tại sao? Cước tàu đang chi phối mạnh giá xuất khẩu cà phê tùy từng nước. Một container 20 feet từ Brazil qua Mỹ, người mua phải trả 4.000 đô la/container trong khi từ Việt Nam 10.000 đô la/container. Như vậy, thị phần xuất khẩu qua Mỹ của cà phê Việt Nam cho hàng cà phê thương mại tạm thời bị hạn chế.
“Mua hàng mà để đó thì làm sao mà mua tiếp được!”, đại diện một nhà nhập khẩu cho biết. Nhiều người muốn bán lại cho các nhà xuất khẩu Việt Nam hay thường gọi là “cà phê xuất khẩu ngược” cũng không xong vì giá mua trước đây ở mức cộng (cao hơn giá niêm yết), thì nay phải bán trừ lùi, không ai chịu lỗ kiểu này. Chính vì tắc nghẽn trong khâu hậu cần mà giao dịch trên thị trường nội địa “đứng bánh” và… chưa biết cho đến khi nào.
Có lẽ để giải quyết một phần khó khăn do giá cước tàu quá cao, sàn cà phê robusta phải dàn xếp bằng cách cho giá tháng giao hàng gần cao hơn giá tháng xa mà thị trường gọi là vắt giá. Theo dõi giao dịch, lần vắt giá này không xuất phát từ thiếu hàng thực sự nhưng phải nói rõ các tồn kho tại nước tiêu thụ và sàn giảm do hàng từ các nước sản xuất không đi được. Còn tồn kho hàng thực thì vẫn đầy tại nước sản xuất, chủ yếu nằm trong tay người mua là các nhà nhập khẩu.
Tồn kho đạt chuẩn thuộc sàn robusta London tuần trước tụt xuống dần chỉ còn 147.060 tấn. Cấu trúc vắt giá đang báo hiệu cho thị trường biết sàn và kho tại các nước tiêu thụ đang cần hàng nhưng chỉ cung cấp vừa đủ số tiền chênh lệch như tỏ ý muốn dàn xếp giá cước, nên mức chênh lệch giữa các tháng chỉ một vài chục đô la Mỹ. Thế thì một khi các nhà kinh doanh “cáp” được giá tàu, đó cũng là lúc báo hiệu hướng lên của giá trên sàn sẽ không như ý muốn.
Hơn nữa, lượng hàng robusta tại Brazil hết sức sẵn sàng. Giá cước Brazil-Mỹ rẻ. Cơ hội robusta Brazil chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu nhiều hơn. Một khi nông dân Brazil chấp nhận giá mua, đặc biệt lúc đồng nội tệ reias Brazil mất giá, thì bấy giờ sẽ thấy làn sóng bán robusta từ Brazil và gây áp lực lên giá.
Tại sao bây giờ nông dân trồng robusta Brazil chưa bán? Vì nước này đang vào mùa rét. Nhà vườn muốn đợi thực hư thời tiết thế nào, nếu thời tiết tạo thuận lợi cho giá, bấy giờ họ mới bán. Nhưng nếu không thuận lợi? Họ bán càng nhanh.
Brazil đã vào mùa rét. Nhưng tính từ cuối thập niên 1990 trở lại, không thấy một trận rét đậm rét hại gây ảnh hưởng đến sản lượng cà phê Brazil vì Brazil đã di chuyển hầu hết diện tích trồng cà phê từ vùng hay bị rét hại xuống vùng ấm hơn. Như vậy, một khi giải quyết được khâu hậu cần và thị trường biết thời tiết Brazil ấm dần, các vùng cà phê không bị sương giá, thị trường sẽ bày ra những trắc trở ngáng hướng đi lên của giá trên sàn phái sinh và thị trường nội địa tại Việt Nam.
Một khó khăn trước mắt nữa là dịch Covid-19 với biến chủng Delta “sát thủ”, nhiều nước bắt đầu siết lại lệnh phong tỏa. Chắc có lẽ thị trường cà phê lại gánh thêm một khó khăn do tiêu thụ cà phê giảm.
Nguyễn Quang Bình (thesaigontimes)
Xuất khẩu cà phê trong những tháng đầu năm 2021 giảm 12% về lượng, giảm 3% về kim ngạch nhưng tăng 7,6% về giá so với cùng kỳ năm 2020.
Thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 5/2021 xuất khẩu cà phê sụt giảm trên 1% cả về lượng và kim ngạch so với tháng liền kề trước. Cụ thể xuất khẩu cà phê đạt 130.285 tấn, tương đương 243,54 triệu USD. Tuy nhiên, giá cà phê tăng nhẹ 0,2%, đạt 1.869,3 USD/tấn.
Trong 5 tháng năm 2021, xuất khẩu giảm 12% về lượng, giảm 3% về kim ngạch nhưng tăng 7,6% về giá so với cùng kỳ năm 2020, đạt 715.263 tấn cà phê, tương đương tỷ 1,3 tỷ USD.
Trong 5 tháng đầu năm, cà phê của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Đức, chiếm 14% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt 178,67 triệu USD, giá tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2020.
Đông Nam Á là thị trường lớn thứ 2 về tiêu thụ cà phê Việt Nam giảm 3,5% về lượng, nhưng tăng 6,7% kim ngạch và tăng 10,6% về giá so với cùng kỳ, đạt 149,67 triệu USD. Xuất khẩu cà phê sang thị trường Mỹ giảm 24,7% về lượng, giảm 18,6% về kim ngạch nhưng tăng 8,1% về giá, đạt 101,09 triệu USD.
Thị trường Trung Quốc là điểm sáng duy nhất trong xuất khẩu cà phê, tăng mạnh 61% về lượng và tăng 52,7% kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 52,8 triệu USD.
Nhìn chung, trong 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu cà phê sang đa số thị trường bị sụt giảm cả lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, nhưng giá lại tăng./.
Phương Hoài/VOV.VN
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "