Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất tăng thêm 15% lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng cho 8 nhóm đối tượng, từ ngày 1/1/2022...
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa trình Chính phủ dự thảo Nghị định Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng, trong đó Bộ đề xuất điều chỉnh tăng thêm 15% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng cho 8 nhóm đối tượng từ ngày 1/1/2022.
Đối với người có mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh mà vẫn thấp hơn 2,5 triệu đồng/tháng thì tiếp tục điều chỉnh, theo hướng tăng thêm 200.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ 2,3 triệu đồng/người/tháng trở xuống.
Đồng thời, tăng lên bằng 2,5 triệu đồng/người/tháng đối với những người có mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ 2,3 đồng/người/tháng đến dưới 2,5 đồng/người/tháng.
“Mức điều chỉnh 15% nhằm đảm bảo bù đắp trượt giá để duy trì giá trị của khoản lương hưu, trợ cấp hiện hưởng của người thụ hưởng do tác động bởi yếu tố lạm phát. Đồng thời, chia sẻ một phần thành quả từ phát triển kinh tế của 3 năm 2019, 2020 và năm 2021, do trong năm 2020 và năm 2021 không thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội”, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội lý giải.
Bộ cũng đánh giá, mức điều chỉnh trên thấp hơn mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội trong ba năm 2019, 2020 và năm 2021 (khoảng gần 17%). Như vậy, phù hợp với tốc độ tăng trưởng đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tính toán, thực hiện theo phương án này thì số đối tượng được điều chỉnh từ nguồn ngân sách nhà nước chi trả ước là 878.156 người, dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2022 là 6.319 tỷ đồng.
Số đối tượng được điều chỉnh từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội chi trả ước là 2.179.897 người, dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2022 là 20.591 tỷ đồng.
Trên cơ sở đánh giá tác động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thấy rằng, việc thực hiện điều chỉnh lương hưu từ ngày 1/1/2022 với mức điều chỉnh 15% có tác động tích cực về mặt kinh tế, xã hội đối với những người đang hưởng lương hưu, trợ cấp, đảm bảo phù hợp với quy định tại Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội.
8 nhóm đối tượng được đề xuất tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội
1. Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động; quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.
2. Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92, Nghị định số 34, Nghị định số 121, Nghị định số 09.
3. Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật, người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91, Quyết định số 613; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu buộc phải thôi việc.
4. Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường.
5. Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142, Quyết định số 38 của Thủ tướng Chính phủ.
6. Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53 của Thủ tướng Chính phủ.
7. Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62.
8. Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.
Nguồn vneconomy.vn
Thế giới đang trong "giai đoạn vô cùng nguy hiểm" của đại dịch Covid-19, do sự xuất hiện biến thể Delta của virus SARS-CoV-2. Chìa khóa cho phép kiểm soát dây chuyền lây nhiễm là tiêm đủ 2 liều vaccine...
Tuyên bố này được Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus đưa ra trong cuộc họp báo mới đây.
Theo ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, biến thể Delta hiện đã có mặt ở ít nhất 98 quốc gia trên thế giới. Và biến thể này vô cùng nguy hiểm, do nó vẫn biến đổi và đang "thống trị" ở nhiều quốc gia.
BIẾN THỂ DELTA – CƠN ÁC MỘNG
Biến thể Delta được phát hiện đầu tiên tại Ấn Độ, hiện đã có mặt ở ít nhất 98 quốc gia trên thế giới và đang lây lan nhanh chóng trong những cộng đồng chưa được tiêm vaccine ngừa Covid-19.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tại châu Âu, biến thể Delta đang trên đà lây lan diện rộng ở nhiều nước, như: Pháp, Đức, Italy hay Bồ Đào Nha. Tại vùng England (Anh), số ca nhiễm biến thể này đã nhanh chóng vượt số ca nhiễm biến thể Alpha trước đó và chiếm đến 95% số ca bệnh.
Theo Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh châu Âu (ECDC), biến thể Delta có khả năng lây nhiễm nhanh hơn từ 40 đến 60% so với biến thể Alpha được phát hiện lần đầu tại Anh.
ECDC dự đoán, đến đầu tháng 8, sẽ có tới 70% số ca mắc mới tại EU nhiễm biến thể Delta và con số này sẽ lên tới 90% vào cuối tháng 8. ECDC cảnh báo, biến thể Delta sẽ lây lan rộng trong mùa hè năm nay, đặc biệt ở nhóm người trẻ tuổi là những người chưa được tiêm chủng vaccine ngừa Covid-19.
Tại Mỹ, Cơ quan Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ cũng cảnh báo Delta có khả năng gây bệnh nặng gấp 2,6 lần biến thể Alpha, đặc biệt ở những người chưa tiêm vaccine.
Còn tại Việt Nam, dịch bệnh Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và một số địa phương khu vực phía Nam đang có chiều hướng gia tăng số ca mắc. GS.TS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh nhận định, một trong những nguyên nhân là do biến thể Delta.
Viện trưởng Phan Trọng Lân cho hay, mức độ lây lan của các biến thể có sự khác nhau. Qua nghiên cứu cho thấy, biến thể Alpha có khả năng lây nhiễm cao hơn đến 70% so với các biến thể cũ. Nghĩa là, một người đã mắc bệnh chủng cũ trung bình sẽ lây cho 2 đến 4 người khác, với chủng biến thể alpha có thể lây cho đến 7 người khác.
Biến thể Delta (B.1.167.2) dễ lây nhiễm hơn biến thể Alpha (B.1.1.7), và ước tính có thể lây nhiễm nhiều hơn từ 40-60%. Tỷ lệ lây nhiễm thứ phát (F1 dương tính) của các ca nhiễm biến thể Delta cao hơn so ca nhiễm biến thể Alpha.
Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus cho rằng, cần theo dõi các đột biến mới của virus SARS-CoV-2, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xét nghiệm lây nhiễm, phát hiện sớm, cách ly người nhiễm và điều trị, cũng như cần tuân thủ tất cả biện pháp phòng ngừa, trong đó có việc đeo khẩu trang, duy trì giãn cách xã hội.
VACCINE – CHÌA KHOÁ KIỂM SOÁT DÂY CHUYỀN LÂY NHIỄM
Việc biến thể Delta bùng phát mạnh một lần nữa đe dọa cuộc sống bình thường của người dân trên thế giới.
Theo nhà nghiên cứu Samuel Alizon, Giám đốc Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique - viết tắt là CNRS), vấn đề đặt ra trước mắt là bản thân virus SARS-CoV-2 và các biến thể vẫn còn nhiều “mảng tối” mà giới y khoa chưa giải mã được hết. Do vậy, giải pháp duy nhất là kiểm soát và ngăn chặn dây chuyền lây nhiễm.
Chìa khóa cho phép kiểm soát dây chuyền lây nhiễm, theo ông Samuel Alizon, đó là tiêm đủ 2 liều vaccine để chống chọi với biến thể Delta. Nhà khoa học này cho rằng, kiểm soát đà lây nhiễm của biến thể Delta và tiêm chủng là “hai mặt của một đồng xu”.
Kìm hãm được mức độ bùng phát của biến thể này càng lâu thì càng có thêm thời gian để tiêm chủng và càng đẩy mạnh tốc độ tiêm chủng thì các điều kiện lây lan sẽ trở nên khó khăn hơn với mọi biến chủng của SARS-CoV-2.
Số liệu nghiên cứu từ Chính phủ Anh cũng chỉ ra rằng, nếu tiêm đủ liều vaccine ngừa Covid-19 có thể giảm đến 96% khả năng phải nhập viện và 79% nguy cơ nhiễm bệnh có triệu chứng do biến thể Delta. Trong trường hợp tiêm chưa đủ liều, khả năng bảo vệ kém hơn nhiều, chỉ ở mức 35%.
Trước diễn biến của dịch bệnh, người đứng đầu WHO – ông Tedros Adhanom Ghebreyesus đã kêu gọi cộng đồng quốc tế đảm bảo cùng kỳ năm sau, sẽ có 70% người dân ở mỗi nước đã được tiêm vaccine phòng bệnh. Để đạt được điều này, các nước cần giúp đỡ lẫn nhau về vaccine phòng COVID-19, máy thở, thuốc men và các xét nghiệm, đồng thời tăng tốc độ tiêm chủng.
Ông Tedros Adhanom Ghebreyesus khẳng định, đây là cách tốt nhất để làm chậm đại dịch Covid-19, cứu sống, thúc đẩy sự phục hồi kinh tế toàn cầu và ngăn chặn sự gia tăng của các biến thể mới nguy hiểm của virus SARS-CoV-2.
Hiện đã có 3 tỷ liều vaccine được phân phối trên thế giới, song chưa đầy 2% trong số này được đưa tới các nước nghèo. Mặc dù các nước giàu, trong đó có Anh, Canada, Mỹ, Pháp... cam kết viện trợ 1 tỷ liều vaccine ngừa Covid-19, WHO ước tính thế giới vẫn cần tới 11 tỷ liều để có thể đạt được miễn dịch cộng đồng.
Nguồn vneconomy.vn
Dịch bệnh gây khó khăn trong vận chuyển, nguồn cung hạn chế khiến giá rau tăng 20-30%, còn thuỷ hải sản cũng đắt thêm 10-15%.
Khảo sát của VnExpress tại một vài chợ truyền thống và cửa hàng bán thực phẩm hôm nay cho thấy, giá rau tăng 10.000-20.000 đồng (20-30%) một kg. Trong đó, dưa leo tăng 10.000 đồng lên 40.000 đồng một kg; rau bí từ 30.000 đồng một bó lên 40.000 đồng một bó; xà lách cũng tăng lên 50.000 đồng một kg. Các loại rau khác đồng loạt tăng thêm 5.000 đồng.
Cùng với rau xanh, giá thủy hải sản cũng tăng mạnh, trong đó, tôm tăng thêm 20.000 đồng một kg, cá bớp từ 280.000 đồng lên 310.000 đồng, cá điêu hồng thay vì 60.000 đồng nay cũng lên 70.000 đồng một kg. Các loại mực, bạch tuộc tăng thêm 20.000 đồng một kg.
Với thịt heo, nhiều cơ sở hiện đã điều chỉnh tăng khi nhu cầu lên cao. Theo đó, một số cơ sở bán nhỏ lẻ tăng giá sườn heo, thịt ba rọi thêm 20.000 - 30.000 đồng mỗi kg. Do nhu cầu các loại này tăng cao trong khi nguồn hàng cung ứng đang giảm.
Chị Hoa, chủ sạp rau củ trên đường Phạm Văn Chiêu (Gò Vấp) cho biết, giá rau củ và thực phẩm tăng mạnh là do thực hiện giãn cách xã hội không chỉ ở TP HCM mà còn ở nhiều tỉnh thành khác nên việc vận chuyển khó khăn hơn, nhất là rau xanh và thủy hải sản.
"Rau về các chợ đầu mối hôm nay ít hơn mọi khi. Trong khi đó, nhu cầu mua hàng hiện tăng cao khiến giá rau tăng mạnh hơn so với hôm qua và tuần trước đó", chị Hoa nói.
Với mặt hàng thủy hải sản, anh Hòa, chủ vựa hải sản Phú Yên giải thích, tỉnh này cũng đang siết chặt do dịch bệnh nên hàng hóa lưu thông chậm hơn. Trong khi đó, chi phí vận chuyển tăng gấp 4 lần đẩy giá hải sản lên cao.
"Giá tại các đầu mối giao hàng chỉ tăng nhẹ nhưng chi phí vận chuyển hàng tăng cao nên tiểu thương và nhiều cửa hàng buộc phải tăng giá bán", anh Hòa nói thêm.
Báo cáo của Chợ đầu mối Thủ Đức hôm nay cho thấy, lượng hàng về chợ 2.848 tấn, giảm 14,9% so với ngày trước. Trong đó, rau từ Tùng Nghĩa giảm gần 30%, hàng từ Tiền Giang và Long An về chợ giảm 22,7%. Vì lượng hàng về giảm nên một vài nông sản đã tăng thêm 5.000 - 10.000 đồng so với nửa tháng trước và tăng 1.000 - 3.000 đồng một kg so với ngày trước đó.
Hồng Châu (vnexpress)
Trong tuần qua, giá lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định. Trong khi đó, giá cà phê trong nước tiếp tục có sự tăng mạnh, có nơi đã cán mốc 36.000 đồng/kg. Với mức này, cà phê đã có giá cao nhất tính từ giữa năm 2018.
Về tình hình giá lúa tại thị trường trong nước, theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, giá lúa ở các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định. Tại thành phố Cần Thơ, sau khi phục hồi nhẹ vào tuần trước thì tuần này giá lúa tại đây ổn đinh. Cụ thể, giá lúa Jasmine khô ở mức 6.500 đồng/kg; OM 4218 là 6.500 đồng/kg, IR 50404 ở mức 6.200 đồng/kg.
Tại Sóc Trăng, giá lúa vẫn ổn định, như: Đài thơm 8 là 8.400 đồng/kg; ST24 là 8.400 đồng/kg; RVT là 7.450 đồng/kg, OM 4900 là 8.200 đồng/kg… Còn tại Trà Vinh, lúa IR 50404 có giá 7.900 đồng/kg, OM4900 là 7.000 đồng/kg…
Còn tại An Giang, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, giá lúa tươi trên địa bàn địa phương cũng ổn định như: IR50404 là 5.000 - 5.300 đồng/kg; lúa Nhật là 7.500 - 7.600 đồng/kg, OM 5451 là 5.400 - 5.700 đồng/kg. Một số loại có giá tăng nhẹ 100 đồng/kg như: Đài thơm 8 từ 5.900 - 6.000 đồng/kg, OM18 là từ 6.200 - 6.300 đồng/kg. Giá lúa khô trên địa bàn tỉnh trong tuần qua vẫn giữ ổn định. Cụ thể, giá lúa khô IR 50404 tại tỉnh là 7.000 đồng/kg, Nàng Nhen là 11.500 - 12.000 đồng/kg.
Bên cạnh đó, giá một số mặt hàng gạo tại An Giang vẫn có sự ổn định. Giá gạo Nhật là 17.000 đồng/kg, nếp từ 14.000 - 15.000 đồng/kg, Jasmine 14.000 - 15.000 đồng/kg, Hương Lài 17.000 đồng/kg, gạo thường từ 11.000 - 12.000 đồng/kg.
Theo Tổng cục Thống kê, sản lượng lúa cả nước 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 20,55 triệu tấn, tăng 673.100 tấn so với cùng kỳ. Sản lượng tăng trong khi diện tích gieo cấy giảm do năng suất lúa Đông Xuân tăng 2,6 tạ/ha so với vụ Đông Xuân năm trước, đạt 68,3 tạ/ha - năng suất cao nhất từ trước đến nay.
Với vụ Hè Thu, trên 147.700 ha diện tích lúa sớm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã cho thu hoạch, chiếm 10,2% diện tích xuống giống. Lúa Hè Thu chính vụ ở các địa phương phía Nam vào giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng đến trổ chín, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Tại các địa phương phía Bắc, lúa Hè Thu đang ở giai đoạn đẻ nhánh đến chắc xanh.
Về mặt hàng cà phê, giá cà phê ở khu vực Tây Nguyên trong tuần qua tiếp tục có sự tăng rất mạnh, từ 1.300 - 1.400 đồng/kg. Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, giá cà phê tại Lâm Đồng từ 35.100 - 35.200 đồng/kg, tăng 1.300 đồng/kg so với cuối tuần trước; tại Kon Tum 35.900 đồng/kg, tăng 1.400 đồng/kg; tại Gia Lai đã chạm mốc 36.000 đồng/kg.
Tuy giá tăng mạnh nhưng theo giới quan sát, người trồng phê đã bán gần hết lượng hàng dự trữ, giao dịch khá chậm. Hiện năng suất cà phê của Việt Nam cao nhất thế giới, trung bình 2,6 tấn/ha nhân đối với cà phê robusta và 1,4 tấn/ha nhân đối với cà phê arabica. Việt Nam đứng thứ 3 về diện tích cà phê được chứng nhận bền vững; đứng thứ 2 về xuất khẩu và chiếm 8,3% thị phần xuất khẩu cà phê toàn cầu.
Là địa phương có diện tích cà phê đứng thứ 3 Tây Nguyên với hơn 120.000 ha, nhưng năng suất cà phê của tỉnh Đắk Nông thấp hơn so với các tỉnh lân cận và hiện chỉ đạt khoảng 2,3 tấn/ha. Tỉnh Đắk Nông đang hỗ trợ canh tác cà phê bền vững, nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận cho nông dân. Đó là: xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất; hỗ trợ công nghệ tưới tiết kiệm, phát triển vườn ươm cà phê giống đạt chuẩn; tập huấn về tái canh cà phê…
Trong khi giá lúa gạo ở thị trường trong nước ổn định thì trên thị trường gạo châu Á, giá gạo xuất khẩu tại các quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu khu vực đều giảm trong tuần qua do các thương nhân Việt Nam và Thái Lan đang phải cố gắng cạnh tranh với mức chào hàng tương đối thấp của Ấn Độ. Trong khi đó, đợt phong tỏa xã hội do dịch COVID-19 ở Bangladesh đã làm tăng giá gạo nước này.
Tại Ấn Độ, giá gạo đồ loại 5% tấm giảm xuống còn từ 367 - 371 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ tháng 11/2020, so với mức từ 369 - 373 USD/tấn của tuần trước.
Tại Việt Nam, giá gạo 5% tấm giảm xuống còn từ 470 - 475 USD/tấn từ 478 - 482 USD/tấn của một tuần trước đó.
Một tin vui cho gạo Việt Nam là mới đây Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV) đã chính thức niêm yết giao dịch gạo thô (ZRE) liên thông với Sở Giao dịch Hàng hóa Chicago. Đây là lần đầu tiên, mặt hàng gạo được niêm yết giao dịch trên thị trường giao dịch hàng hóa tập trung tại Việt Nam. Việc MXV niêm yết giao dịch gạo được cho sẽ tạo ra một kênh thông tin, cái nhìn toàn cảnh về thị trường gạo thế giới. Từ đó, giá gạo sẽ được công khai và cập nhật nhanh chóng. Người nông dân tránh gặp tình trạng thao túng giá, trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại Việt Nam cũng sẽ đánh giá được chính xác về cung và cầu của mặt hàng này, giúp họ có lợi thế khi tham gia đàm phán chốt giá xuất khẩu với các đối tác nước ngoài.
Trong khi đó, giá gạo 5% tấm của Thái Lan cũng giảm xuống còn từ 420 - 422 USD/tấn, từ 420 - 430 USD/tấn của một tuần trước, mức thấp nhất kể từ cuối năm 2019.
Các nhà giao dịch gạo cho biết, nhu cầu gạo trên toàn cầu hiện vẫn không đổi vì giá gạo giống của Thái Lan vẫn cao hơn các đối thủ cạnh tranh. Giá cước vận chuyển hàng hóa cũng giữ mức cao. Một thương nhân tại Bangkok cho biết, hiện nay rất khó tìm được tàu và giá cước vận chuyển đã tăng gấp đôi trong những tháng gần đây, khiến các nhà xuất khẩu gạo khó bán hơn.
Trên thị trường nông sản Mỹ, giá các mặt hàng nông sản giao dịch tại sàn Chicago (Mỹ) biến động trái chiều trong phiên giao dịch ngày 2/7, với giá ngô và lúa mỳ giảm, còn giá đậu tương tăng.
Chốt phiên này, giá ngô giao tháng 12/2021 giảm 9,25 xu Mỹ (1,57%) xuống 5,7975 USD/bushel. Trong khi giá lúa mỳ giao tháng 9/2021 giảm 12,75 xu Mỹ (1,57%) xuống 6,5275 USD/bushel. Tuy nhiên, giá giá đậu tương giao tháng 11/2021 lại tăng 3,5 xu Mỹ (0,25%) lên 13,99 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).
Công ty nghiên cứu AgResource, có trụ sở tại Chicago, lưu ý rằng khối lượng giao dịch trong phiên này thấp hơn bình thường do các nhà giao dịch biết rằng, giá các mặt hàng nông sản giao kỳ hạn sẽ tăng hoặc giảm mạnh vào ngày 6/7 tới, tùy thuộc vào dự báo thời tiết mới nhất.
Theo kế hoạch, Trung Quốc sẽ nhập khẩu 20 triệu tấn ngô của thế giới trong giai đoạn 2021-2022. Tuy nhiên, một quan chức phụ trách lĩnh vực nông nghiệp của Mỹ đã nâng ước tính nhập khẩu ngô niên vụ cũ của Trung Quốc lên 28 triệu tấn, tăng 2 triệu tấn so với ước tính trước đó, do tốc độ nhập khẩu tiếp tục diễn ra mạnh mẽ.
Trung Quốc đã nhập khẩu từ 11,5 - 12 triệu tấn ngô của Mỹ và ít nhất 6 triệu tấn ngô từ Ukraine, trong tổng cộng khoảng 17,5 - 19,5 triệu tấn ngô mà quốc gia này nhập khẩu từ các nước trên thế giới.
Xuất khẩu đậu tương của Mỹ trong tháng 5/2021 đạt 46,6 triệu bushel, cao hơn 8,3 triệu bushel so với số liệu của Cơ quan Kiểm tra Ngũ cốc Liên bang (FGIS).
Dự báo thời tiết cho thấy không khí tại bang Iowa (Mỹ) sẽ ẩm ướt hơn một chút, song tình trạng khô hạn có thể tiếp tục diễn ra từ ngày 12/7 tại khu vực Đồng bằng Bắc Mỹ, phía Trung Tây và vùng Prairies của Canada.
Trong báo cáo dự trữ hàng quý của mình, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho biết, nguồn cung ngô nước này hiện ở mức 4,122 tỷ bushel, mức thấp nhất kể từ năm 2014. Dự trữ đậu tương ở mức thấp nhất trong sáu năm là 767 triệu bushel và dự trữ lúa mì là 844 triệu bushel, cũng là mức thấp nhất trong sáu năm.
Số liệu trên đang làm dấy lên những lo ngại về nguồn cung toàn cầu khi hàng tồn kho ở mức thấp và các khu vực đang canh tác ở Bắc và Nam Mỹ phải vật lộn với thời tiết bất lợi.
Về giá cà phê thế giới, kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe - London (Anh) biến động ngược chiều. Giá cà phê Robusta giao tháng 9/2021 tăng 6 USD, lên 1.707 USD/tấn, trong khi giá kỳ hạn giao tháng 11/2021 giảm 6 USD, xuống 1.699 USD/tấn. Khối lượng giao dịch duy trì trên mức trung bình.
Trái lại, giá cà phê trên sàn ICE US - New York (Mỹ) có phiên sụt giảm thứ tư liên tiếp. Giá cà phê Arabica giao tháng 9/2021 giảm 3,35 xu Mỹ, xuống 153,05 xu Mỹ/pound và giá cà phê Arabica giao tháng 12 cũng giảm 3,35 xu Mỹ, còn 155,95 xu Mỹ/pound (1 pound =0,454 kg). Khối lượng giao dịch ở mức trung bình.
Giá cà phê tại thị trường New York sụt giảm liên tiếp thời gian qua khi nhiều thông tin cho biết đợt không khí lạnh cuối tháng Sáu ở miền Nam Brazil không gây hại gì đáng kể cho cây cà phê Arabica, vốn đã được di dời về phía Bắc nóng ấm hơn. Trong khi thị trường vẫn còn nguyên áp lực bán hàng vụ mới từ các nhà sản xuất hàng đầu.
Bích Hồng - Minh Trang (TTXVN)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "