Chào mừng quý vị đã ghé thăm website của chúng tôi. Mọi thắc mắc và phản ánh xin vui lòng liên hệ với bộ phận Quản trị - Phòng Tổ chức Hành chính (Email: info@mascopex.com)
Giá cà phê robusta kỳ hạn giao sau được các chuyên gia dự báo sẽ duy trì ở mức cao kỷ lục 16 tháng thêm vài tháng nữa do tồn trữ còn rất ít, trong khi nhiều khả năng hiện tượng thời tiết bất thường La Nina sẽ khiến nguồn cung càng thêm khan hiếm.
Cung robusta ở mức thấp đúng lúc tồn trữ cà phê toàn cầu bị thắt chặt đã đẩy giá robusta trên sàn ICE (London) tăng lên 1.866 USD/tấn trong phiên giao dịch 15/7/2016, cao nhất trong vòng 16 tháng, và cao hơn khoảng 22% so với hồi đầu năm.
Xuất khẩu tăng mạnh từ Việt Nam – nước sản xuất robusta hàng đầu thế giới – đã bù đắp cho nguồn cung suy giảm ở Indonesia – nơi thu hoạch cà phê năm nay muộn hơn nhiều so với những năm trước do khô hạn, và Brazil – nơi sản lượng rất thấp do khô hạn kéo dài. Trong 5 tháng đầu năm 2016, xuất khẩu cà phê Indonesia đã giảm 40% so với cùng kỳ năm ngoái. Do tồn trữ trong nước còn rất ít nên các nhà rang xay Indonesia tăng 5-10% giá chào bán cho khách hàng quốc tế.
Brazil và Indonesia là những nước sản xuất robusta lớn thứ 2 và thứ 3 thế giới, sau Việt Nam.
Sản lượng robusta ở Ấn Độ niên vụ 2016/17 dự báo cũng sẽ thấp do thời tiết bất thường.
Abah Ofon, nhà phân tích cấp cao của Global Coffee Monitor (thuộc Agrimoney) nhận định giá robusta có nhiều khả năng sẽ vẫn duy trì ở mức cao trong quý III trước khi giảm trở lại – khi tồn trữ trên toàn cầu hồi phục.
“Chúng ta cần thấy nguồn cung cải thiện để giá giảm trở lại. Nhưng đáng tiếc nếu nguồn cung arabica cũng sụt giảm thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng dây chuyền tới robusta”, ông Ofon cho biết, và dự báo “Có khả năng các nhà rang xay và các nhà đầu cơ sữ săn mua robusta chất lượng cao khi thấy tồn trữ cà phê xuống thấp”.
Trong phiên giao dịch 20/7, giá Robusta kỳ hạn giao tháng 9 đã giảm nhẹ xuống 1.804 USD/tấn khi các nhà đầu cơ bán chốt lời sau đợt giá tăng mạnh. Chênh lệch giá giữa cà phê Việt Nam loại 2 giao và hợp đồng giao tháng 9 đã giảm xuống -30 USD.
Mặc dù giá đã giảm khỏi mức cao kỷ lục 16 tháng, song ông Ofon cho rằng “tình trạng thiếu hụt sẽ ngày càng rõ nét”, và dự báo niên vụ 2016/17 thế giới sẽ thiếu hụt robusta.
Agrimoney nhận định, mặc dù có thể thời tiết sẽ tốt dần lên vào cuối niên vụ 2016/17, và không phải toàn bộ các khu vực trồng robusta ở châu Á có nguy cơ bị mưa quá nhiều, song La Nina vẫn có thể ảnh hưởng tới năng suất ở Việt Nam, khiến nguồn cung chậm hồi phục.
Nhiều chuyên gia dự báo “Có thể sẽ mưa quá nhiều ở Việt Nam sau khi hạn hán trong niên vụ trước”.
BMI Research ngày 20/7 dự báo La Nina – khiến nước vùng biển đông Thái Bình Dương ấm lên sau giai đoạn El Nino – sẽ có nguy cơ ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng ngô, lúa mì, đậu tương, đường, bông và cà phê.
Khu vực trồng cà phê ở miền Trung – Tây nguyên hồi đầu năm bị hạn hán nghiêm trọng nhất trong vòng 30 năm, nhưng dự báo đến khoảng tháng 10-11 sẽ có mưa nhiều hơn khoảng 5-15% so với mức trung bình. Mà vụ thu hoạch cà phê rơi vào tháng 10, rộ vào tháng 11. Mưa nhiều sẽ làm cho việc thu hoạch bị chậm lại, và ảnh hưởng tới việc phơi sấy, khiến chất lượng hạt giảm sút. Đồng thời mưa nhiều cũng khiến trái cà phê nhanh rụng, làm tăng tỷ lệ hạt đen, giảm hạt nâu.
Hiệp hội Cà phê Cacao Việt Nam mới đây cho biết sản lượng niên vụ 2016/17 của Việt Nam có thể sẽ giảm 20-25% do khô hạn. Con số này đã được điều chỉnh giảm so với mức giảm 30% trong dự báo trước đây, sau khi mùa mưa đến sớm hơn dự kiến – vào giữa tháng 5.
Các tổ chức quốc tế đều có chung nhận định bi quan về nguồn cung robusta thế giới.
Trong báo cáo tháng 6, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo hạn hán sẽ làm giảm 8,4% sản lượng cà phê của Việt Nam, Indonesia và Ấn Độ, xuống còn tổng cộng 42,45 triệu bao (1 bao = 60 kg), mức thấp nhất trong vòng 5 năm. Ba nước châu Á này chiếm khoảng 30% tổng sản lượng cà phê toàn cầu, còn nếu tính riêng robusta thì chiếm khoảng 60% sản lượng toàn cầu.
USDA dự báo sản lượng robusta thế giới sẽ giảm gần 5,4 triệu bao xuống mức thấp nhất 5 năm là 61,6 triệu bao, do sản lượng sụt giảm ở ba nước trên cộng thêm Brazil và Uganda.
USDA dự báo sản lượng của Việt Nam sẽ giảm 2 triệu bao xuống 27,3 triệu bao; của Brazil sẽ giảm 1,2 triệu bao xuống mức thấp nhất 7 năm là 12,1 triệu bao; của Indonesia sẽ giảm 1,8 triệu bao xuống 10 triệu bao; của Ấn Độ sẽ giảm 8% xuống 5,33 triệu bao.
Theo USDA, tồn trữ cà phê thế giới sẽ giảm năm thứ 2 liên tiếp và xuống mức thấp nhất kể từ niên vụ 2011/12.
Rabobank tháng 6 cũng đã nâng dự báo về thiếu hụt cà phê toàn cầu trong niên vụ tới do yếu tố thời tiết, theo đó thị trường sẽ thiếu 4,6 triệu bao (tăng so với mức 1,3 triệu bao dự báo trước khi hạn hán). Theo Rabobank, hạn không chỉ ảnh hưởng tới mùa màng của các những nước trên, mà cả ở Thái Lan và Lào.
Nguồn: CafeF/Trí thức trẻ
Hạn hán, thiên tai gây thiệt hại khá nặng nề cho ngành cà phê trong niên vụ 2015-2016 và dự báo sẽ còn để lại di chứng cho niên vụ sau. Trong khi đó, việc dừng cho vay ngoại tệ với lãi suất thấp tạo khó khăn “kép” cho doanh nghiệp cà phê. Vì thế, khi được tháo gỡ khó khăn này, doanh nghiệp cà phê mừng ra mặt.
Khó khăn “kép”
“Chưa bao giờ ngành cà phê lại khó khăn vậy” là cảm nhận của ông Nguyễn Viết Vinh, Tổng thư ký Hiệp hội Cà phê- Ca cao Việt Nam (Vicofa) khi nói về tình hình xuất khẩu của ngành cà phê thời gian qua. Theo đó, ngay từ đầu vụ tức tháng 10 năm 2015, ngành cà phê đã phải đối mặt với tình hình khô hạn khắc nghiệt nhất trong 3 thập kỷ qua. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến 5 tỉnh Tây Nguyên- vùng trọng điểm trồng cà phê, trong đó, tỉnh Đắk Lắk là tỉnh thiệt hại lớn, tiếp đến là Gia Lai, Lâm Đồng, Kon Tum. Trong tổng số 165.000 ha cây công nghiệp nói chung trên các địa bàn thì cây cà phê chiếm 110.000 ha, trong đó có 40.000 ha chết khô.
Dù vậy, xuất khẩu cà phê vẫn có sự tăng trưởng nhất định. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê trong 6 tháng đầu năm 2016 đạt 983.891 tấn đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước 1,707 tỷ USD, tăng 39,6% về lượng và 17,8% về trị giá. Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Đức đạt 159.873 tấn trong 6 tháng đầu năm với trị giá 264,34 triệu USD. Tiếp theo là thị trường Mỹ với 127.983 tấn, trị giá 222,409 triệu USD, Italia (79.118 tấn, 132,96 triệu USD), Tây Ban Nha (62.646 tấn, 108,263 triệu USD), Nhật Bản (55.395 tấn, 101,596 triệu USD).
Ông Vinh cho biết, lượng cà phê xuất khẩu tăng là do có lượng tồn kho từ năm cũ chuyển sang. Còn về giá, hiện tại đã có sự hồi phục so với thời điểm trước, giá cà phê đã nhích lên 37-38 triệu đồng/tấn. Nguyên nhân là do “thủ phủ” cà phê Brazil cũng cùng chung cảnh ngộ giảm sản lượng khiến cho nguồn cung trên thế giới cũng giảm. Theo quy luật cung cầu, nguồn cung yếu thì tất lẽ giá sẽ nhích lên.
Không chỉ khó khăn do hạn hán, mấy tháng qua, doanh nghiệp cà phê như “ngồi trên đống lửa” khi Ngân hàng Nhà nước tạm dừng không cho vay ngoại tệ. Theo Vicofa, mấy năm trước, Ngân hàng Nhà nước vẫn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, thủy sản… vay ngoại tệ lãi suất thấp. “Nhưng vừa qua, khi chuẩn bị vào mùa vụ thì có thông tin Ngân hàng Nhà nước không cho vay tiếp nguồn ngoại tệ. Rõ ràng, doanh nghiệp càng khó khăn hơn”, ông Vinh nói. Còn theo ông Nguyễn Nam Hải, Phó chủ tịch Vicofa, những năm gần đây, trong ngành cà phê các doanh nghiệp lớn của nước ngoài đã gần như chiếm lĩnh phần lớn thị phần thu mua nguyên liệu. Họ tận dụng được nguồn vốn rẻ do vay từ các ngân hàng ngoại sau đó chuyển đổi sang tiền đồng để thu mua nguyên liệu trong nước. Vì thế các doanh nghiệp nội địa nếu không được vay USD sau đó chuyển sang tiền đồng để tiết giảm chi phí lãi thì hoàn toàn không thể cạnh tranh được ngay tại “sân nhà”.
"Cởi trói" vốn
Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước dừng cho vay ngoại tệ, Vicofa đã có kiến nghị gửi Ngân hàng Nhà nước đề nghị tạo điều kiện cho doanh nghiệp cà phê vay ngoại tệ lãi suất thấp bởi với ngành này chi phí để thu mua, chế biến nguyên liệu xuất khẩu rất lớn và quay vòng nhanh chóng. Hơn nữa, Vicofa lập luận rằng, việc tiếp tục cho doanh nghiệp vay ngoại tệ lãi suất thấp là thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 19/2016/NQ-CP, Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ. Tin mừng cho doanh nghiệp cà phê là Ngân hàng Nhà nước đã chấp thuận đề xuất này. Đây có thể coi là một “cứu cánh” cho doanh nghiệp cà phê trong bối cảnh khó khăn như đã nói trên.“Cũng nhờ giải pháp này mà xuất khẩu cà phê 6 tháng qua mới đạt kết quả tích cực như vậy”, ông Vinh chia sẻ.
Khi được hỏi về mục tiêu xuất khẩu cà phê cả năm 2016, vị này cho hay, ngay từ đầu năm chúng tôi đã dự báo xuất khẩu sẽ khó khăn bởi hạn hán kéo dài. Không chỉ sản lượng cà phê bị ảnh hưởng mà chất lượng cà phê cũng giảm khi nước không đủ cho nhân cà phê phát triển. 6 tháng đầu năm có tăng trưởng khả quan nên cả năm 2016 xuất khẩu cà phê có thể tăng hơn năm 2015, dù không nhiều.
Để thực hiện được mục tiêu xuất khẩu năm 2015, ngoài những biện pháp mà Vicofa đã thực hiện như kiến nghị Thủ tướng tháo gỡ khó khăn, cải tạo hồ đập đối phó khô hạn, giãn nợ cho người trồng cà phê, ông Vinh cho biết thêm, các doanh nghiệp cà phê cũng mong muốn ngân hàng cải tiến các thủ tục tiếp cận vốn. Các địa phương đẩy mạnh tiến độ cấp sổ đỏ cho người dân để họ lấy đó làm tài sản thế chấp vay vốn, đồng thời, cần có chính sách tài chính ổn định cho doanh nghiệp yên tâm làm ăn. Kết hợp với các thương vụ nước ngoài để mở rộng thị trường cũng là một biện pháp giúp cho ngành cà phê có sự tăng trưởng ổn định trong 6 tháng qua. Tuy nhiên, Vicofa vẫn mong các thương vụ hoạt động tích cực hơn để truyền thông tin về tới Bộ Công Thương, tới doanh nghiệp một cách kịp thời. Thực tế hoạt động chưa hiệu quả của các thương vụ ở nước ngoài cũng được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thẳng thắn chỉ ra và yêu cầu Bộ Công Thương củng cố lại đội ngũ tham tán, thương vụ.
Phan Thu (Báo Hải quan)
Theo thống kê của Hiệp hội Điều Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2016 cả nước xuất khẩu được trên 161 ngàn tấn điều nhân với kim ngạch đạt trên 1,2 tỷ USD, tăng khoảng 10% về lượng và 17,5% về trị giá so với cùng kỳ. Dự kiến, thị trường xuất khẩu từ nay đến cuối năm tiếp tục tăng.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp trong ngành chế biến, xuất khẩu điều nhân lại đang sản xuất cầm chừng vì gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu.
Căng thẳng nguồn nguyên liệu
Vụ thu hoạch vừa qua sản lượng điều trong nước và thế giới đều giảm mạnh khiến giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh, không ít doanh nghiệp điêu đứng vì nhập khẩu hạt điều bị đối tác “phá” hợp đồng trong khi đã ký kết nhiều đơn hàng xuất khẩu.
Bà Nguyễn Thị Lý, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu Cường Lý (huyện Xuân Lộc), nhận xét giá hạt điều hiện từ 41-43 ngàn đồng/kg, trung bình cả vụ tăng khoảng 40% so vụ trước. Giá cao nhưng việc thu gom nguồn nguyên liệu vẫn rất khó khăn do mất mùa nên sản lượng điều năm nay giảm mạnh, nhiều vùng giảm đến 50% so với vụ trước đó. Chất lượng điều cũng kém hơn. “Nguồn nguyên liệu điều nhập khẩu cũng đang sốt giá, nhiều doanh nghiệp đang rất khó khăn vì các đơn hàng nhập khẩu điều bị đối tác “phá” hợp đồng trong khi đơn hàng xuất khẩu nhân điều đã ký. Không ít doanh nghiệp, cơ sở chế biến nhỏ lẻ đều đã đóng cửa vì thiếu nguyên liệu sản xuất. Tình hình căng thẳng về nguyên liệu chế biến sẽ còn kéo dài đến khi điều cho thu hoạch vụ mới” - bà Lý cho biết thêm.
Với mục tiêu phát triển bền vững cho cây điều, năm 2014 UBND tỉnh đã phê duyệt dự án cánh đồng lớn cho cây điều. Niên vụ năm nay, dự án bắt đầu khởi động khi dự án cánh đồng lớn cho cây điều xã An Viễn (huyện Trảng Bom) đã thu hút được doanh nghiệp tham gia, ký kết hợp đồng bao tiêu hạt điều cho nông dân với giá tốt. Nông dân tham gia chương trình được hỗ trợ tập huấn về kỹ thuật sản xuất, hỗ trợ ghép cải tạo vườn điều, thực hiện mô hình điều xen canh ca cao...
Nguyên liệu khan hiếm, giá tăng cao, thị trường cũng nhiều rủi ro hơn khiến hầu hết các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh trong ngành điều đều e dè trong việc thu mua, trữ hàng. Hầu hết buộc phải thu hẹp sản xuất, chủ yếu chọn cách mua đứt, bán đoạn theo từng đơn hàng chứ không nhận đơn đặt hàng trước cả hàng tháng trời như mọi năm. Ông Phạm Văn Tuấn, chủ DNTN Tuấn Sang (huyện Trảng Bom), cho hay: “Dù tăng cường đi thu gom khắp các tỉnh, thành, nhưng so với năm ngoái doanh nghiệp thu mua chỉ đạt 20-30%. Hàng nhập thường được bán qua tay ngay chứ không trữ lại như mọi năm”.
Bất lợi trong cạnh tranh
Với tình hình giá nguyên liệu biến động như hiện nay, các đơn hàng sơ chế nhân hạt điều trắng xuất khẩu hầu như không có lợi nhuận. Ngay cả những doanh nghiệp chọn hướng đầu tư chế biến sâu, như: hạt điều rang muối, kẹo hạt điều... vốn được cho là có nhiều lợi thế cạnh tranh cũng đang mất dần lợi thế về thị trường. Bà Trần Thị Kim Dư, Giám đốc Công ty TNHH bánh kẹo Yến Nhi (TP.Biên Hòa), than thở: “Nguyên liệu nhân điều để chế biến bánh kẹo liên tục tăng giá với mức cao. Trong khi đó, doanh nghiệp rất khó điều chỉnh giá sản phẩm với mức tăng tương đương với giá nguyên liệu. Tuy nhiên, giá tăng khiến doanh nghiệp vẫn gặp khó cả ở thị trường tiêu thụ nội địa lẫn xuất khẩu”.
Theo các doanh nghiệp trong ngành chế biến hạt điều, vài năm trở lại đây diện tích cây điều đang dần bị thu hẹp do không cạnh tranh được với nhiều loại cây trồng khác. Một nguyên nhân khác, nhiều vùng điều trồng bằng giống cũ, cây già cỗi cho năng suất thấp khiến hạt điều nội địa kém sức cạnh tranh so với nguyên liệu điều nhập khẩu. Việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu gây rất nhiều rủi ro cho doanh nghiệp, nhất là trong giao thương thường ở thế yếu khi xảy ra tình trạng đối tác phá vỡ hợp đồng.
Bình Nguyên (Báo Đồng Nai)
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay chỉ tăng chưa đầy 6% so với cùng kỳ năm 2015. Đây là mức tăng rất thấp của 6 tháng đầu năm trong nhiều năm qua, do giá xuất khẩu giảm mạnh.
Theo Báo cáo của Bộ Công Thương tại Hội nghị sơ kết tình hình sản xuất, công nghiệp và thương mại 6 tháng đầu năm, diễn ra tại Hà Nội hôm 12-7, kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 82,24 tỉ đô la Mỹ, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2015 (6 tháng năm 2015 tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước). Đây là mức tăng thấp, kể cả xem xét trong tương quan với mức tăng GDP của năm nay.
Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng thấp chủ yếu do giá xuất khẩu giảm 6,3%, bao gồm cả giảm giá dầu thô và giá xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến. Nếu loại trừ yếu tố giá giảm, thì tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm đạt 10,1% (mặc dù vẫn thấp hơn mức tăng 13,4% của cùng kỳ năm trước nhưng là mức cao hơn so với mục tiêu kế hoạch đề ra của năm 2016).
Tuy nhiên, trong bối cảnh cả cung trong nước và cầu nước ngoài cùng giảm sút, giá xuất khẩu lại duy trì ở mức thấp thì tốc độ này được Bộ Công Thương đánh giá là vẫn khá tích cực, đặc biệt là nếu so sánh với các nước trong khu vực (đều có xuất khẩu, nhập khẩu tăng trưởng âm hoặc chỉ đạt mức tương đương năm trước). Ví dụ, 4 tháng đầu năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc giảm 7,6%; Ấn Độ giảm 8%; Braxin giảm 3,4%; Indonesia giảm 13,6%.
Tăng trưởng xuất khẩu 6 tháng đầu năm có sự phân hóa rõ rệt giữa một số ngành, lĩnh vực.
Nhóm hàng nông sản, thủy sản có kim ngạch xuất khẩu tăng 6%, là mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ (cùng kỳ năm ngoái giảm 8,9%). Mức tăng thêm 116 triệu đô la Mỹ so với cùng kỳ của nhóm này có ý nghĩa trong việc đóng góp vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung.
Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu giảm 38,7% so với cùng kỳ năm 2015 chủ yếu do xuất khẩu dầu thô giảm mạnh cả về lượng và giá xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu nhóm nhiên liệu, khoáng sản giảm 867 triệu đô la Mỹ do giá xuất khẩu giảm, và giảm 184 triệu đô do lượng xuất khẩu giảm.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến là nhóm hàng có độ nhạy cao với tổng cầu và khi nhu cầu suy giảm sẽ chịu ảnh hưởng lớn hơn nhóm nông sản. Tuy nhiên, so với các nhóm hàng khác thì mức tăng trưởng 8,2% của nhóm này là khá tích cực. Đây là nhóm hàng hóa chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, song với mức tăng trưởng không cao so với cùng kỳ đã không thể kéo kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước tăng lên.
Lan Nhi (The Saigontimes)
Ms Hằng: 098 998 9992
Ms Thanh: 0901 307 308


" MASCOPEX phấn đấu trở thành Công ty Uy tín – Tin cậy – Chất lượng hàng đầu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mặt hàng nông sản "